Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
Dự án Luật khí tượng thuỷ văn
Theo chương trình làm việc của kỳ họp thứ 9 Quốc hội kh XIII, Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về Dự án Luật KTTV. Đây là lần đầu tiên, Quốc hội nước ta thảo luận, bàn đến một dự án luật mà có tác động to lớn đến công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai.
Sự cần thiết phải ban hành Luật
Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển Ngành KTTV, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động KTTV đến nay là Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình KTTV (Pháp lệnh), ban hành từ năm 1994. Qua tổng kết, đánh giá việc thi hành pháp luật về KTTV hơn 20 năm qua cho thấy, QPPL về KTTV chưa đầy đủ và không có hệ thống nên đã không bao quát được các hoạt động KTTV đang ngày càng phát triển, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước. Cụ thể:
Một là, Pháp lệnh được ban hành đến nay chỉ điều chỉnh mảng công tác điều tra cơ bản, cụ thể là khai thác và bảo vệ công trình KTTV, không bao quát được đầy đủ toàn bộ các mặt hoạt động khác của lĩnh vực KTTV. Mặt khác, do ban hành ở thời điểm năm 1994, nên nhiều thay đổi, phát triển KT - XH có liên quan tới hoạt động KTTV, cũng như các chủ trương, quan điểm mới của Đảng và Nhà nước đã không được phản ánh, điều chỉnh trong Pháp lệnh.
Một số quy định của Pháp lệnh không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Ví dụ, quy định về “Hành lang an toàn kỹ thuật công trình KTTV” còn phức tạp, mang tính kỹ thuật hơn tính pháp lý. Trong bối cảnh đô thị h nhanh chóng như hiện nay, những quy định này trở nên lỗi thời, thiếu tính khả thi. Điều đó dẫn đến việc vi phạm hành lang kỹ thuật công trình KTTV rất phổ biến, công tác thanh tra, kiểm tra không thể xử lý được triệt để.
Hai là, hệ thống văn bản quy định kỹ thuật KTTV chưa đồng bộ, còn lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Các quy định kỹ thuật, quy phạm được ban hành chủ yếu nhằm phục vụ cho hoạt động KTTV của Bộ TN&MT, trước đây là Tổng cục KTTV mà chưa tính đến việc điều chỉnh đối với các hoạt động KTTV của các ngành, lĩnh vực khác.
Ba là, công nghệ lưu trữ, bảo quản và khai thác thông tin, dữ liệu KTTV còn lạc hậu. Thông tin, dữ liệu KTTV chưa được coi là hàng hoá, chưa đủ cơ sở pháp lý để quản lý. Nghĩa vụ tài chính trong khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu KTTV chưa có cơ chế phù hợp, thỏa đáng. Việc xây dựng hệ thống CSDL quốc gia về KTTV chưa được triển khai. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do chưa có cơ chế, hành lang pháp lý cho hoạt động này.
Bốn là, phục vụ, dịch vụ KTTV chưa phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị mà hoạt động KTTV đem lại. Dịch vụ, sản phẩm KTTV chưa theo kịp yêu cầu phát triển KT-XH của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Giá trị KT-XH của thông tin, dữ liệu KTTV là không thể phủ nhận.
Năm là, chức năng, nhiệm vụ QLNN lĩnh vực KTTV chưa rõ và rành mạch trách nhiệm. QLNN về KTTV là một trong những khâu hạn chế lớn, kéo dài trong nhiều năm qua. QLNN thống nhất đối với toàn bộ các hoạt động KTTV chưa đạt hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt là vai trò của cơ quan QLNN về KTTV đối với các hoạt động KTTV chuyên dùng của các ngành, lĩnh vực liên quan còn yếu, do cơ sở pháp lý thiếu, chưa đồng bộ.
Sáu là, thanh tra chuyên ngành KTTV chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn tới hiệu lực, hiệu quả QLNN về KTTV không cao. Trước năm 2002, lĩnh vực KTTV có hoạt động thanh tra chuyên ngành, được quy định tại Pháp lệnh khai thác và Bảo vệ công trình KTTV. Từ khi thành lập Bộ TN&MT đến nay, công tác thanh tra KTTV được giao cho Thanh tra Bộ. Do nhiều nguyên nhân, công tác thanh tra chuyên ngành KTTV còn có hạn chế. Thanh tra Bộ, cơ quan QLNN trong một số năm gần đây chủ yếu tập trung thanh tra việc chấp hành pháp luật về KTTV đối với các bộ, ngành, địa phương và các công trình, dự án liên quan trực tiếp tới hoạt động KTTV trên phạm vi toàn quốc, những vấn đề thuộc về chuyên môn, kỹ thuật KTTV đã không được xem xét, bao quát toàn diện.
Bảy là, một số vấn đề mới như giám sát BĐKH, tác động vào thời tiết, vai trò, trách nhiệm của hoạt động KTTV trong ứng phó với BĐKH, quản lý chất lượng dự báo, dịch vụ, phát triển công nghệ KTTV... chưa có văn bản pháp lý quy định hoặc chưa xác định rõ ràng, rành mạch.
Để dự án Luật Khí tượng Thủy văn đi vào cuộc sống
Dự án Luật KTTV trình Quốc hội kỳ có 11 chương, 61 điều đã quy định khá toàn diện các hoạt động KTTV, quy định khá rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động KTTV. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban KH, CN&MT của Quốc hội cho thấy, dự án Luật KTTV được chuẩn bị công phu, đầy đủ, đúng với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Về cơ bản, nội dung của dự án Luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất với hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, nội dung của dự án Luật có liên quan đến một số công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và nhiều luật khác như Luật BVMT, Luật phòng, chống thiên tai, Luật tài nguyên nước, Luật đo lường, Luật giá, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật thanh tra, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và pháp luật về phí và lệ phí... Vì vậy,cần tiếp tục rà soát, làm rõ hơn các nội dung của dự thảo Luật liên quan đến các công ước, điều ước quốc tế và các luật khác để bảo đảm phù hợp, thống nhất của hệ thống pháp luật. Về bố cục của dự thảo Luật, cũng cần tiếp tụccân nhắc, nghiên cứu để chuyển vị trí Chương VI “Giám sát BĐKH” lên ngay sau Chương IV “Thông tin, dữ liệu KTTV” để phù hợp hơn với logic: Dự báo, cảnh báo KTTV, thông tin, dữ liệu KTTV gắn liền với giám sát BĐKH. Có ýkiến đề nghị, nên tách nội dung “quy hoạch, phát triển mạng lưới trạm KTTV” thành một chương riêng. Về tính khả thi, dự thảo Luật có tới 08 điều, khoản giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và 06 điều, khoản giao Bộ TN&MT, các bộ ngành hữu quan hướng dẫn chi tiết mới thực hiện được. Do đó, có ý kiến đê nghị cần cụ thể hóa hơn nữa những điều khoản này.
Nghiên cứu nội dung cụ thể dự án Luật KTTV, cho thấy có những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện sau:
Những quy định chung (Chương I): Về chính sách của nhà nước đối với hoạt động KTTV, tại khoản 2, Điều 5 dự thảo Luật mới chỉ đặt vấn đề “Khuyến khích các địa phương hỗ trợ kinh phí cho hoạt động KTTV trên địa bàn” là chưa đủ để tạo cơ chế thuận lợi cho hoạt động KTTV ở địa phương. Hơn nữa, tại Điều 54 đã quy định rõ nhiệm vụ QLNN của UBND các cấp. Do vậy, cần nghiên cứu để bổ sung, làm rõ hơn nữa quy định này để bảo đảm tính khả thi. Mặt khác, cần nghiên cứu bổ sung chính sách nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ để hiện đại hóa mạng lưới KTTV; phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, khuyến khích, hỗ trợ đối với cán bộ công chức, viên chức, người lao động làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Quản lý, khai thác mạng lưới trạm KTTV (Chương II), cần tiếp tục cụ thể hóa hơn nữa những quy định về quản lý, khai thác mạng lưới trạm KTTV, cụ thể:
Về mạng lưới trạm KTTV (Điều 9): Bộ TN&MT đang quản lý mạng lưới trạm KTTV, mạng lưới trạm quan trắc môi trường và mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước. Vì vậy, cần quy định cụ thể hơn để bảo đảm tính đồng bộ, khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các mạng lưới trạm, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn vốn đầu tư của nhà nước.
Về lập, phê duyệt quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và giám sát BĐKH quốc gia (Điều 11): Cần làm rõ mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch: Quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và quy hoạch tổng thể mạng lưới trạm quan trắc TN&MT quốc gia.
Về nội dung của quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và giám sát BĐKH quốc gia (khoản 2, Điều 11): Có ý kiến cho rằng nội dung của quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và giám sát BĐKH quốc gia còn thiếu một số nội dung như nguồn lực, giải pháp để triển khai thực hiện quy hoạch. Đồng thời, cần có những nghiên cứu phối hợp sử dụng mạng lưới này với các mạng lưới khác như mạng lưới bưu chính viễn thông, mạng lưới điện lực để có thể chia sẻ hạ tầng cơ sở với nhau, vì nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng cơ sở là rất lớn. Do đó, nghiên cứu bổ sung những nội dung này trong các quy hoạch.
Dự báo, cảnh báo KTTV (Chương III): Về trách nhiệm dự báo, cảnh báo KTTV: Thông tin dự báo, cảnh báo KTTV có tác động rất lớn đến đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân. Thông tin không chính xác về các hiện tượng KTTV nguy hiểm có thể gây thiệt hại lớn đến KT-XH. Vì vậy, Ban soạn thảo nên bổ sung điều, khoản quy định về trách nhiệm dự báo, cảnh báo KTTV trong trường hợp thông tin dự báo, cảnh báo không chính xác, gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của nhân dân.
Thẩm quyền cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV (khoản 5, Điều 25): Có ý kiến cho rằng, quy định về thẩm quyền cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV của chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại điểm b còn chưa rõ ràng. Vì thế, dự thảo thảo cần làm rõ: Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền cấp phép cho tổ chức, cá nhân trong phạm vi địa phương hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV có trụ sở tại địa phương hay cho tổ chức, cá nhân mà hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV của tổ chức, cá nhân này được thực hiện trong phạm vi địa phương. Hơn nữa, việc phân cấp cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV cho cấp tỉnh từ trước đến nay chưa được quy định. Do đó, Ban soạn thảo cần cân nhắc thật kỹ quy định này.
Truyền, phát tin dự báo, cảnh báo KTTV (Điều 26): Một số ý kiến cho rằng tại Điều 26 quy định về truyền, phát tin dự báo, cảnh báo KTTV, vì thế trong đó có nội dung “xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình, truyền tin…” (khoản 1, Điều 26) là chưa thực sự phù hợp. Dự thảo thảo cần bảo đảm tính logic của Luật.
Về hoạt động phục vụ, dịch vụ KTTV (Chương V) và những nội dung xã hội hóa trong hoạt động KTTV: Nội dung xã hội hoá lĩnh vực KTTV được thể hiện trong Dự thảo Luật này là vấn đề mới, được thể hiện ở một số chương của dự thảo Luật, tập trung tại Chương V “Hoạt động phục vụ, dịch vụ KTTV” gồm 04 điều từ Điều 33 đến Điều 36. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng nội dung hoạt động phục vụ, dịch vụ KTTV (Điều 33); cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện phục vụ, dịch vụ KTTV (Điều 34) quy định còn chưa cụ thể, rõ ràng. Tại Điều 35 có quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động cung cấp dịch vụ KTTV “Có quyền được thu phí, thù lao và các chi phí khác từ hoạt động cung cấp dịch vụ KTTV” nhưng việc thu phí trong pháp luật về phí và lệ phí hiện hành chưa quy định nội dung này; điểm c, khoản 1, Điều 36 “Định giá dịch vụ KTTV” còn chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật giá hiện hành. Mặt khác, dự thảo Luật quy định dịch vụ dự báo, cảnh báo KTTV là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện (khoản 3, Điều 34), trong khi đó Danh mục kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật đầu tư hiện hành không có loại hình dịch vụ này.
Vì vậy, dự thảo Luật cần tiếp tục cụ thể và rõ hơn nữa những nội dung nêu trên, đồng thời bổ sung quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hình thức hợp tác giữa cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực KTTV để bảo đảm tính khả thi của Luật.
Có ý kiến cho rằng, bên cạnh việc khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực KTTV, thì cần có hình thức bắt buộc trong một số lĩnh vực cụ thể có hoạt động gây ảnh hưởng tới sự an toàn, tính mạng, tài sản của cộng đồng, xã hội, ví dụ như đối với các công trình, dự án: hồ chứa thủy điện, thủy lợi; cảng hàng không; truyền tải điện...
Về giám sát BĐKH (Chương VI): Về “Kỳ đánh giá khí hậu quốc gia và xây dựng kịch bản BĐKH” (khoản 2, Điều 39 và khoản 2, Điều 40): Có ý kiến cho rằng, khoản 2, Điều 39 quy định về kỳ đánh giá và công bố kết quả đánh giá khí hậu quốc gia là 5 năm và khoản 2, Điều 40 quy định về kỳ xây dựng, công bố, hướng dẫn sử dụng kịch bản BĐKH của Việt Nam 5 năm là quá ngắn, nên cân nhắc quy định này đồng thời bổ sung quy định về cập nhật kịch bản BĐKH cho phù hợp và đầy đủ.
Về tác động vào thời tiết (Chương VII): Về “Nguyên tắc tác động vào thời tiết” (Điều 42), dự thảo Luật quy định “Tác động vào thời tiết cho khu vực này không được làm cản trở hoặc gây tác động có hại đối với hoạt động KT-XH của khu vực khác”. Theo Ủy ban KH,CN&MT, khu vực được tác động trực tiếp cũng cần được quan tâm để bảo đảm việc tác động vào thời tiết không gây hại cho chính khu vực đó. Vì vậy, cần nghiên cứu chỉnh sửa lại khoản 2, Điều 42 cho phù hợp. Đồng thời cân nhắc có thêm quy định lấy ý kiến cộng đồng dân cư khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động tác động vào thời tiết.
Hợp tác quốc tế về KTTV (Chương XIII): Hợp tác quốc tế về KTTV là nội dung rất quan trọng để nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo KTTV, hiện đại hóa trang thiết bị quan trắc, ứng dụng kỹ thuật dự báo hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, cần tiếp tục làm rõ các nguyên tắc hợp tác quốc tế về KTTV và nhất là nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chia sẻ thông tin thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế về KTTV.
Để có thể sớm đưa Luật thi hành trên thực tiễn, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý đối với hoạt động KTTV, nhất là trong bối cảnh BĐKH, thiên tai gia tăng như hiện nay, dự án Luật Khí tượng Thủy cần được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9; hoàn thiện, chỉnh lý trình Quốc hộ xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10.
Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển Ngành KTTV, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động KTTV đến nay là Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình KTTV (Pháp lệnh), ban hành từ năm 1994. Qua tổng kết, đánh giá việc thi hành pháp luật về KTTV hơn 20 năm qua cho thấy, QPPL về KTTV chưa đầy đủ và không có hệ thống nên đã không bao quát được các hoạt động KTTV đang ngày càng phát triển, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT - XH của đất nước. Cụ thể:
Một là, Pháp lệnh được ban hành đến nay chỉ điều chỉnh mảng công tác điều tra cơ bản, cụ thể là khai thác và bảo vệ công trình KTTV, không bao quát được đầy đủ toàn bộ các mặt hoạt động khác của lĩnh vực KTTV. Mặt khác, do ban hành ở thời điểm năm 1994, nên nhiều thay đổi, phát triển KT - XH có liên quan tới hoạt động KTTV, cũng như các chủ trương, quan điểm mới của Đảng và Nhà nước đã không được phản ánh, điều chỉnh trong Pháp lệnh.
Một số quy định của Pháp lệnh không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Ví dụ, quy định về “Hành lang an toàn kỹ thuật công trình KTTV” còn phức tạp, mang tính kỹ thuật hơn tính pháp lý. Trong bối cảnh đô thị h nhanh chóng như hiện nay, những quy định này trở nên lỗi thời, thiếu tính khả thi. Điều đó dẫn đến việc vi phạm hành lang kỹ thuật công trình KTTV rất phổ biến, công tác thanh tra, kiểm tra không thể xử lý được triệt để.
Hai là, hệ thống văn bản quy định kỹ thuật KTTV chưa đồng bộ, còn lạc hậu, không theo kịp sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Các quy định kỹ thuật, quy phạm được ban hành chủ yếu nhằm phục vụ cho hoạt động KTTV của Bộ TN&MT, trước đây là Tổng cục KTTV mà chưa tính đến việc điều chỉnh đối với các hoạt động KTTV của các ngành, lĩnh vực khác.
Ba là, công nghệ lưu trữ, bảo quản và khai thác thông tin, dữ liệu KTTV còn lạc hậu. Thông tin, dữ liệu KTTV chưa được coi là hàng hoá, chưa đủ cơ sở pháp lý để quản lý. Nghĩa vụ tài chính trong khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu KTTV chưa có cơ chế phù hợp, thỏa đáng. Việc xây dựng hệ thống CSDL quốc gia về KTTV chưa được triển khai. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do chưa có cơ chế, hành lang pháp lý cho hoạt động này.
Bốn là, phục vụ, dịch vụ KTTV chưa phát triển, chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị mà hoạt động KTTV đem lại. Dịch vụ, sản phẩm KTTV chưa theo kịp yêu cầu phát triển KT-XH của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Giá trị KT-XH của thông tin, dữ liệu KTTV là không thể phủ nhận.
Năm là, chức năng, nhiệm vụ QLNN lĩnh vực KTTV chưa rõ và rành mạch trách nhiệm. QLNN về KTTV là một trong những khâu hạn chế lớn, kéo dài trong nhiều năm qua. QLNN thống nhất đối với toàn bộ các hoạt động KTTV chưa đạt hiệu lực, hiệu quả, đặc biệt là vai trò của cơ quan QLNN về KTTV đối với các hoạt động KTTV chuyên dùng của các ngành, lĩnh vực liên quan còn yếu, do cơ sở pháp lý thiếu, chưa đồng bộ.
Sáu là, thanh tra chuyên ngành KTTV chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn tới hiệu lực, hiệu quả QLNN về KTTV không cao. Trước năm 2002, lĩnh vực KTTV có hoạt động thanh tra chuyên ngành, được quy định tại Pháp lệnh khai thác và Bảo vệ công trình KTTV. Từ khi thành lập Bộ TN&MT đến nay, công tác thanh tra KTTV được giao cho Thanh tra Bộ. Do nhiều nguyên nhân, công tác thanh tra chuyên ngành KTTV còn có hạn chế. Thanh tra Bộ, cơ quan QLNN trong một số năm gần đây chủ yếu tập trung thanh tra việc chấp hành pháp luật về KTTV đối với các bộ, ngành, địa phương và các công trình, dự án liên quan trực tiếp tới hoạt động KTTV trên phạm vi toàn quốc, những vấn đề thuộc về chuyên môn, kỹ thuật KTTV đã không được xem xét, bao quát toàn diện.
Bảy là, một số vấn đề mới như giám sát BĐKH, tác động vào thời tiết, vai trò, trách nhiệm của hoạt động KTTV trong ứng phó với BĐKH, quản lý chất lượng dự báo, dịch vụ, phát triển công nghệ KTTV... chưa có văn bản pháp lý quy định hoặc chưa xác định rõ ràng, rành mạch.
Để dự án Luật Khí tượng Thủy văn đi vào cuộc sống
Dự án Luật KTTV trình Quốc hội kỳ có 11 chương, 61 điều đã quy định khá toàn diện các hoạt động KTTV, quy định khá rõ quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động KTTV. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban KH, CN&MT của Quốc hội cho thấy, dự án Luật KTTV được chuẩn bị công phu, đầy đủ, đúng với quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Về cơ bản, nội dung của dự án Luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất với hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, nội dung của dự án Luật có liên quan đến một số công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và nhiều luật khác như Luật BVMT, Luật phòng, chống thiên tai, Luật tài nguyên nước, Luật đo lường, Luật giá, Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật thanh tra, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và pháp luật về phí và lệ phí... Vì vậy,cần tiếp tục rà soát, làm rõ hơn các nội dung của dự thảo Luật liên quan đến các công ước, điều ước quốc tế và các luật khác để bảo đảm phù hợp, thống nhất của hệ thống pháp luật. Về bố cục của dự thảo Luật, cũng cần tiếp tụccân nhắc, nghiên cứu để chuyển vị trí Chương VI “Giám sát BĐKH” lên ngay sau Chương IV “Thông tin, dữ liệu KTTV” để phù hợp hơn với logic: Dự báo, cảnh báo KTTV, thông tin, dữ liệu KTTV gắn liền với giám sát BĐKH. Có ýkiến đề nghị, nên tách nội dung “quy hoạch, phát triển mạng lưới trạm KTTV” thành một chương riêng. Về tính khả thi, dự thảo Luật có tới 08 điều, khoản giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và 06 điều, khoản giao Bộ TN&MT, các bộ ngành hữu quan hướng dẫn chi tiết mới thực hiện được. Do đó, có ý kiến đê nghị cần cụ thể hóa hơn nữa những điều khoản này.
Nghiên cứu nội dung cụ thể dự án Luật KTTV, cho thấy có những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện sau:
Những quy định chung (Chương I): Về chính sách của nhà nước đối với hoạt động KTTV, tại khoản 2, Điều 5 dự thảo Luật mới chỉ đặt vấn đề “Khuyến khích các địa phương hỗ trợ kinh phí cho hoạt động KTTV trên địa bàn” là chưa đủ để tạo cơ chế thuận lợi cho hoạt động KTTV ở địa phương. Hơn nữa, tại Điều 54 đã quy định rõ nhiệm vụ QLNN của UBND các cấp. Do vậy, cần nghiên cứu để bổ sung, làm rõ hơn nữa quy định này để bảo đảm tính khả thi. Mặt khác, cần nghiên cứu bổ sung chính sách nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ để hiện đại hóa mạng lưới KTTV; phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, khuyến khích, hỗ trợ đối với cán bộ công chức, viên chức, người lao động làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Quản lý, khai thác mạng lưới trạm KTTV (Chương II), cần tiếp tục cụ thể hóa hơn nữa những quy định về quản lý, khai thác mạng lưới trạm KTTV, cụ thể:
Về mạng lưới trạm KTTV (Điều 9): Bộ TN&MT đang quản lý mạng lưới trạm KTTV, mạng lưới trạm quan trắc môi trường và mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên nước. Vì vậy, cần quy định cụ thể hơn để bảo đảm tính đồng bộ, khả năng chia sẻ dữ liệu giữa các mạng lưới trạm, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn vốn đầu tư của nhà nước.
Về lập, phê duyệt quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và giám sát BĐKH quốc gia (Điều 11): Cần làm rõ mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch: Quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và quy hoạch tổng thể mạng lưới trạm quan trắc TN&MT quốc gia.
Về nội dung của quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và giám sát BĐKH quốc gia (khoản 2, Điều 11): Có ý kiến cho rằng nội dung của quy hoạch mạng lưới trạm KTTV và giám sát BĐKH quốc gia còn thiếu một số nội dung như nguồn lực, giải pháp để triển khai thực hiện quy hoạch. Đồng thời, cần có những nghiên cứu phối hợp sử dụng mạng lưới này với các mạng lưới khác như mạng lưới bưu chính viễn thông, mạng lưới điện lực để có thể chia sẻ hạ tầng cơ sở với nhau, vì nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng cơ sở là rất lớn. Do đó, nghiên cứu bổ sung những nội dung này trong các quy hoạch.
Dự báo, cảnh báo KTTV (Chương III): Về trách nhiệm dự báo, cảnh báo KTTV: Thông tin dự báo, cảnh báo KTTV có tác động rất lớn đến đời sống, sản xuất, kinh doanh của người dân. Thông tin không chính xác về các hiện tượng KTTV nguy hiểm có thể gây thiệt hại lớn đến KT-XH. Vì vậy, Ban soạn thảo nên bổ sung điều, khoản quy định về trách nhiệm dự báo, cảnh báo KTTV trong trường hợp thông tin dự báo, cảnh báo không chính xác, gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của nhân dân.
Thẩm quyền cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV (khoản 5, Điều 25): Có ý kiến cho rằng, quy định về thẩm quyền cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV của chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại điểm b còn chưa rõ ràng. Vì thế, dự thảo thảo cần làm rõ: Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền cấp phép cho tổ chức, cá nhân trong phạm vi địa phương hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV có trụ sở tại địa phương hay cho tổ chức, cá nhân mà hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV của tổ chức, cá nhân này được thực hiện trong phạm vi địa phương. Hơn nữa, việc phân cấp cấp phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV cho cấp tỉnh từ trước đến nay chưa được quy định. Do đó, Ban soạn thảo cần cân nhắc thật kỹ quy định này.
Truyền, phát tin dự báo, cảnh báo KTTV (Điều 26): Một số ý kiến cho rằng tại Điều 26 quy định về truyền, phát tin dự báo, cảnh báo KTTV, vì thế trong đó có nội dung “xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình, truyền tin…” (khoản 1, Điều 26) là chưa thực sự phù hợp. Dự thảo thảo cần bảo đảm tính logic của Luật.
Về hoạt động phục vụ, dịch vụ KTTV (Chương V) và những nội dung xã hội hóa trong hoạt động KTTV: Nội dung xã hội hoá lĩnh vực KTTV được thể hiện trong Dự thảo Luật này là vấn đề mới, được thể hiện ở một số chương của dự thảo Luật, tập trung tại Chương V “Hoạt động phục vụ, dịch vụ KTTV” gồm 04 điều từ Điều 33 đến Điều 36. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng nội dung hoạt động phục vụ, dịch vụ KTTV (Điều 33); cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện phục vụ, dịch vụ KTTV (Điều 34) quy định còn chưa cụ thể, rõ ràng. Tại Điều 35 có quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động cung cấp dịch vụ KTTV “Có quyền được thu phí, thù lao và các chi phí khác từ hoạt động cung cấp dịch vụ KTTV” nhưng việc thu phí trong pháp luật về phí và lệ phí hiện hành chưa quy định nội dung này; điểm c, khoản 1, Điều 36 “Định giá dịch vụ KTTV” còn chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật giá hiện hành. Mặt khác, dự thảo Luật quy định dịch vụ dự báo, cảnh báo KTTV là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện (khoản 3, Điều 34), trong khi đó Danh mục kinh doanh có điều kiện quy định tại Luật đầu tư hiện hành không có loại hình dịch vụ này.
Vì vậy, dự thảo Luật cần tiếp tục cụ thể và rõ hơn nữa những nội dung nêu trên, đồng thời bổ sung quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hình thức hợp tác giữa cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực KTTV để bảo đảm tính khả thi của Luật.
Có ý kiến cho rằng, bên cạnh việc khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia vào lĩnh vực KTTV, thì cần có hình thức bắt buộc trong một số lĩnh vực cụ thể có hoạt động gây ảnh hưởng tới sự an toàn, tính mạng, tài sản của cộng đồng, xã hội, ví dụ như đối với các công trình, dự án: hồ chứa thủy điện, thủy lợi; cảng hàng không; truyền tải điện...
Về giám sát BĐKH (Chương VI): Về “Kỳ đánh giá khí hậu quốc gia và xây dựng kịch bản BĐKH” (khoản 2, Điều 39 và khoản 2, Điều 40): Có ý kiến cho rằng, khoản 2, Điều 39 quy định về kỳ đánh giá và công bố kết quả đánh giá khí hậu quốc gia là 5 năm và khoản 2, Điều 40 quy định về kỳ xây dựng, công bố, hướng dẫn sử dụng kịch bản BĐKH của Việt Nam 5 năm là quá ngắn, nên cân nhắc quy định này đồng thời bổ sung quy định về cập nhật kịch bản BĐKH cho phù hợp và đầy đủ.
Về tác động vào thời tiết (Chương VII): Về “Nguyên tắc tác động vào thời tiết” (Điều 42), dự thảo Luật quy định “Tác động vào thời tiết cho khu vực này không được làm cản trở hoặc gây tác động có hại đối với hoạt động KT-XH của khu vực khác”. Theo Ủy ban KH,CN&MT, khu vực được tác động trực tiếp cũng cần được quan tâm để bảo đảm việc tác động vào thời tiết không gây hại cho chính khu vực đó. Vì vậy, cần nghiên cứu chỉnh sửa lại khoản 2, Điều 42 cho phù hợp. Đồng thời cân nhắc có thêm quy định lấy ý kiến cộng đồng dân cư khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động tác động vào thời tiết.
Hợp tác quốc tế về KTTV (Chương XIII): Hợp tác quốc tế về KTTV là nội dung rất quan trọng để nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo KTTV, hiện đại hóa trang thiết bị quan trắc, ứng dụng kỹ thuật dự báo hiện đại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, cần tiếp tục làm rõ các nguyên tắc hợp tác quốc tế về KTTV và nhất là nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và chia sẻ thông tin thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế về KTTV.
Để có thể sớm đưa Luật thi hành trên thực tiễn, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý đối với hoạt động KTTV, nhất là trong bối cảnh BĐKH, thiên tai gia tăng như hiện nay, dự án Luật Khí tượng Thủy cần được Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 9; hoàn thiện, chỉnh lý trình Quốc hộ xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10.
Tác giả bài viết: ThS. Đặng Trần Hiếu (Văn phòng Quốc hội)
Nguồn tin: tapchitainguyenvamoitruong.vn
Các tin khác
- Quốc hội thông qua Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (02/07/2015)
- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo - hành lang pháp lý quan trọng tạo bước đột phá trong quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Việt Nam (25/06/2015)
- Luật Đất đai 2013: Siết chặt giao đất, cho thuê đất để phát huy nguồn lực đất đai (29/05/2015)
- Đổi mới mạnh mẽ công tác thanh tra tài nguyên và môi trường (16/04/2015)
- Định giá đất - Xu hướng hợp tác quốc tế sau Luật Đất đai 2013 (01/04/2015)
- Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang: Tập trung thanh tra để tạo chuyển biến (26/02/2015)
- UBND cấp huyện được ban hành thông báo thu hồi đất (28/01/2015)
- Tiếp nhận thông tin phản ánh về việc vi phạm pháp luật trong quản lý sử dụng đất đa (19/01/2015)
- Năm 2015: Bộ Tài nguyên Môi trường sẽ dốc sức thanh tra, xử lý vi phạm (19/01/2015)
- Quy chế Phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (27/12/2014)


