Vai trò của khoa học công nghệ đối với việc quản trị tài nguyên nước

Post date: 10/06/2015

Font size : A- A A+
 Hiện nay, TNN có những biểu hiện suy thoái cả về số lượng lẫn chất lượng. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước, khan hiếm nước xuất hiện ở nhiều nơi và đang có xu hướng gia tăng. Tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả, thiếu quy hoạch, thiếu tính liên ngành còn khá phổ biến. Vấn đề đặt ra là, cần phải làm gì và làm như thế nào để quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả TNN, bảo đảm sự sống của con người, phục vụ phát triển KT-XH và BVMT sinh thái theo quan điểm phát triển bền vững?
 Quản trị tài nguyên nước

Trong thập kỷ qua, thuật ngữ “Quản trị nước” đã xuất hiện và trở thành từ khóa “tiêu chuẩn” của các chuyên gia và học giả trong lĩnh vực TNN. Mặc dù, thuật ngữ này có rất nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều có điểm chung là nhấn mạnh mối quan hệ giữa Nhà nước về TNN và xã hội.

Quản trị TNN liên quan đến phạm vi của hệ thống chính trị, KT-XH và hành chính được áp dụng để phát triển, quản lý TNN và cung cấp dịch vụ nước ở các cấp độ khác nhau của xã hội, hoặc đơn giản hơn, quản trị TNN là tập hợp các hệ thống kiểm soát ra quyết định liên quan đến phát triển và quản lý TNN. Do đó, quản trị TNN tập trung về cách thức mà các quyết định được thực hiện, tức là thực hiện như thế nào, do ai và những điều kiện quyết định được thực hiện là gì.

Quản trị nước đưa ra “luật chơi” cho các phương thức quản lý nước. Quản trị nước không tốt có thể dẫn đến việc TNN bị xuống cấp hoặc bị khai thác quá mức, điều này sẽ gây tổn thương cho người dân nhất là dân nghèo và làm mất tính ĐDSH và là nguyên nhân dẫn đến thiếu bền vững cho các hoạt động sinh kế và phát triển kinh tế. Với tình hình nước ta hiện nay, quản trị TNN là thách thức và đòi hỏi phải được đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc. Chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, cung cấp dịch vụ về nước một cách hợp lý, hiệu quả. Muốn làm được như vậy, cần phải chú trọng đầu tư không chỉ vào nguồn nhân lực mà còn phải đầu tư và ứng dụng những đổi mới về KH&CN, các giải pháp kỹ thuật, hệ thống thông tin truyền thông... để đạt hiệu quả cao trong quản trị TNN.

Tình hình áp dụng khoa học, công nghệ trong quản trị tài nguyên nước

Kiến thức khoa học và đổi mới công nghệ có thể giúp cho việc ra quyết định trong quản trị TNN nhằm tăng cường công tác bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững TNN. Việc áp dụng dụng công nghệ trong quản trị nguồn nước ở Việt Nam đang được thực hiện trên các phương diện:

Một là, trong quan trắc, giám sát TNN: Công nghệ quan trắc, giám sát tự động và truyền số liệu kỹ thuật số từ các trạm quan trắc về trung tâm quản lý dữ liệu; công nghệ viễn thám giám sát hoạt động khai thác sử dụng, giám sát xả nước thải vào nguồn nước, giám sát lũ lụt. Với công nghệ này, việc quan trắc, giám sát ở những vùng sâu, vùng xa, kể cả ở ngoài biên giới cũng dễ dàng thực hiện và nhanh chóng có thông tin, số liệu, hình ảnh để phục vụ việc ra quyết định trong quản lý nguồn nước. ứng dụng công nghệ phân tích ảnh viễn thám được sử dụng thông qua các tài liệu ảnh viễn thám (date ảnh ở các thời gian khác nhau) chụp với độ phân giải cao, tỷ lệ lớn có thể cho phép phân tích giám sát biến đổi chất lượng nước, số lượng nước mặt và thậm chí cả NDĐ.

Hai là, ứng dụng công nghệ thiết bị định vị vệ tinh toàn cầu: Hiện rất phát triển và đang được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam trong việc xác định cao toạ độ (sử dụng GPS đa hệ), xác định toạ độ bằng thiết bị GPS cầm tay phục vụ công tác điều tra TNN.

Ba là, ứng dụng công nghệ đo địa vật lý có thể xác định địa tầng địa chất, mức độ chứa nước, phân bố mặn nhạt của tầng chứa nước trên cơ sở kết hợp với các tài liệu khoan thăm dò địa chất thuỷ văn.

Bốn là, công nghệ số, mô hình toán để mô phỏng, đánh giá, diễn toán trong việc đánh giá dự báo TNN dưới đất, TNN mặt.

Năm là, ứng dụng công nghệ SDN tiết kiệm (tưới nhỏ giọt) để tăng hiệu quả SDN trong sản xuất nông nghiệp: Một trong những giải pháp được đưa ra là áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước tại các vườn cây công nghiệp, ăn quả, hoa... và nghiên cứu chế tạo thành công các loại vòi và bộ lọc nước phục vụ cho tưới tiết kiệm. Đây là công cụ giúp định lượng, quản lý tốt và kiểm soát được tổng lượng nước dùng. Điều này, cho phép trong tương lai cải tiến được chính sách thủy lợi phí là điều quyết định cho việc tăng hiệu quả SDN. Khi khối lượng nước được sử dụng tối ưu thì các tác động xấu đến môi trường có liên quan sẽ được giảm thiểu.

Sáu là, sử dụng các giống cây trồng chịu hạn, đặc biệt đối với các vùng đất gặp khó khăn về nước tưới. Sử dụng các chất giữ ẩm trong trồng trọt để tiết kiệm nước.
Bảy là, triển khai kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH để phòng, chống, giảm nhẹ các tác động của hạn hán.

Tám là, xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN xử lý chất thải gây ONMT cho các làng nghề để BVMT nói chung và bảo vệ nguồn nước nói riêng.

Giải pháp tăng cường vai trò của khoa học công nghệ đối với việc quản trị tài nguyên nước

Hiện nay, trên thế giới đã ứng dụng nhiều giải pháp công nghệ nhằm quản trị TNN hiệu quả. Trong đó, có hai giải pháp là về kỹ thuật và quản lý. Thực chất, việc đưa ra quyết định, phương hướng, chiến lược trong quản trị TNN đều được thực hiện trên cơ sở các dữ liệu thu thập được.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, kỹ thuật và chuyển giao công nghệ về bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm TNN; các giải pháp bổ sung nhân tạo NDĐ; sử dụng kết hợp nước mặt và NDĐ; ứng dụng công nghệ sạch trong xử lý nước thải, nước bị ô nhiễm; xây dựng và hoàn thiện mô hình quản lý tổng hợp LVS.

Giải pháp kỹ thuật: Tăng cường việc ứng dụng các thiết bị quan trắc, giám sát số lượng và chất lượng nước như quan trắc các yếu tố thủy văn và khí tượng (mực nước, lưu lượng, mưa, bốc hơi, nhiệt độ...) trên các sông. Các dữ liệu này cần được quan trắc liên tục và số liệu được truyền về trạm trung tâm để xử lý, phân tích. Giám sát chất lượng nước có thể dựa trên việc thu, lấy mẫu tự động, phân tích và cho kết quả. Cần tăng cường ứng dụng thu thập dữ liệu qua vệ tinh hiện bởi có độ chính xác cao. Tuy nhiên với chi phí cao, ngân sách hạn chế nên cần phải cân nhắc, xem xét.

Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, ứng dụng KH&CN tiên tiến để quản lý, bảo vệ, phát triển nguồn nước, khai thác, sử dụng hiệu quả TNN, công nghệ xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn quy chuẩn để tái sử dụng; công nghệ xử lý nước mặn, nước lợ thành nước ngọt; công nghệ thu gom nước mua, bổ sung nhân tạo NDĐ, khôi phục nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, phòng, chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra.

Ưu tiên đầu tư tìm kiếm, thăm dò, khai thác nguồn nước; đầu tư và xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát TNN; hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu TNN, ô nhiễm nguồn nước, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, NBD và các tác hại khác do nước gây ra; áp dụng kỹ thuật, công nghệ, thiết bị tiên tiến trong khai thác, sử dụng nước; tăng khả năng SDN tuần hoàn, tái sử dụng; tích trữ nước mưa để sử dụng; khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư công nghệ SDN tuần hoàn, tái SDN, thu gom, SDN mưa, SDN được khử muối từ nước lợ, nước mặn, đầu tư thiết bị, công nghệ tiết kiệm nước, được hưởng những chính sách ưu đãi như vay vốn, miễn giảm thuế theo quy định của pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ xử lý nước thải, cải tạo, phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt, tái SDN và công nghệ khác nhằm SDN tiết kiệm, hiệu quả.

Các cơ quan có chức năng phải có trách nhiệm bố trí kinh phí và xây dựng các chương trình nghiên cứu KH&CN nhằm SDN tiết kiệm, hiệu quả và xử lý, cải tạo, khôi phục nguồn nước bị ô nhiễm, cạn kiệt; khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ nhằm SDN tuần hoàn, tái sử dụng, nâng cao hiệu quả SDN trong các ngành công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp; nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ xử lý nước thải, cải tạo, phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong việc vận hành điều tiết nước hồ chứa, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn nước; ứng dụng giải pháp công nghệ để chế tạo mới các phương tiện, thiết bị SDN tiết kiệm, cải tiến, đổi mới, nâng cấp thiết bị SDN; SDN tiết kiệm và hiện quả trong quá trình thiết kế, thi công công trình xây dựng.


Tác giả bài viết: Nguyễn Minh Khuyến (Phó Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước)
Nguồn tin: tapchitainguyenvamoitruong.vn

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 156

  • Tổng 10.311.508