Dự báo tiềm năng khai thác nước dưới đất huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn phục vụ công tác quản lý và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước đến năm 2020

Post date: 31/03/2016

Font size : A- A A+

Huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn có vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình với tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày một tăng kéo theo nhu cầu khai thác, sử dụng nước ngày càng lớn. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn huyện và thị xã có nguy cơ thiếu hụt nguồn nước sạch, nguồn tài nguyên nước đặc biệt là nguồn nước dưới đất có dấu hiệu nhiễm bẩn, vùng ven biển và hạ nguồn Sông Gianh, Sông Roòn đối mặt với tình trạng bị nhiễm mặn đã và đang ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sản xuất của nhân dân. 

Việc gia tăng nhu cầu khai thác nước dưới đất phục vụ cho các ngành kinh tế, trong khi điều kiện địa chất, địa chất thủy văn, động thái chất lượng nước dưới đất rất phức tạp, mức độ nghiên cứu về tài nguyên nước dưới đất của huyện Quảng Trạch cũng như tỉnh Quảng Bình còn hạn chế là một trong những khó khăn lớn trong công tác quản lý và khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước dưới đất.

Đặc điểm nguồn tài nguyên nước dưới đất

Theo các kết quả nghiên cứu huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn gồm có 7 tầng chứa nước và 1 đới chứa nước trong các thành tạo magma xâm nhập, cụ thể: Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Đệ tứ không phân chia (q); Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích bở rời Holocen thượng(qh2); Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích bở rời Holocen hạ - trung (qh1); Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích lục nguyên hệ tầng Đồng Đỏ (t3); Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích lục nguyên hệ tầng Đồng Trầu (t2); Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích cacbonat hệ tầng Bắc Sơn (c-p); Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích lục nguyên hệ tầng Đông Thọ (d3); Đới chứa nước khe nứt trong các thành tạo có nguồn gốc magma (g).
Kết quả tính toán trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất theo phương pháp Bindeman (QKT  = a1Qe +  Qt ) thì trữ lượng nước dưới đất huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn là 244.089 m3/ngày đêm, cụ thể:
Bảng: Tổng hợp trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất (năm 2014)
Các tầng
chứa nước
Các thông số của tầng chứa nước
Trữ lượng khai thác tiềm năng (m3/ngày đêm)
Diện tích phân bố F (km2)
Dao động mực nước hàng năm
DH (m)
Hệ số nhả nước
m
Hệ số sử dụng trữ lượng tĩnh
a
Thời hạn khai thác
nước tkt
(ngày đêm)
Chiều dày tầng chứa nước
H (m)
Holocen (q, qh)
235,5
1,0
0,17
0,3
104
10,0
88.884
Pleistocen (qp)
6,1
1,0
0,07
0,3
104
12,0
6.669
Các tầng chứa nước khe nứt và đới chứa nước
373,1
1,0
0,16
0,3
104
30,0
148.537
Tổng cộng
244.089
Theo Dự án “Điều tra, đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất tỷ lệ 1:50.000
trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” năm 2014
Với trữ lượng tiềm năng như trên thì nguồn nước dưới đất của huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn không lớn, do đó cần khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Do đặc điểm nguồn nước dưới đất thường thay đổi theo mùa, phụ thuộc vào lượng mưa và các nguồn nước cấp trên bề mặt nên trữ lượng nước dưới đất có sự biến động theo mùa.
Thực trạng quản lý tài nguyên nước, khai thác, sử dụng nước dưới đất
Về quản lý nhà nước về tài nguyên nước: Tình hình quản lý tài nguyên nước trên địa bàn huyện, thị xã trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, đã hoàn thành tốt các kế hoạch nhiệm vụ hằng năm, quan tâm đầu tư các dự án, kế hoạch nhằm nâng cao công tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn. Tuy nhiên, do thiếu nhân sự, thiếu cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước cộng với phạm vi quản lý rộng, tập trung nhiều loại hình khai thác nước dưới đất nên quá trình quản lý gặp phải một số khó khăn nhất định. Ở cấp huyện, xã, nhiệm vụ quản lý tài nguyên, môi trường nói chung và tài nguyên nước dưới đất nói riêng chưa được phân cấp cụ thể và chưa hình thành hệ thống quản lý.
Về tình trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất trên địa bàn: Theo kết quả tổng hợp đến hết tháng 2/2014 thì tổng số công trình trên địa bàn hiện đang khai thác, sử dụng nước dưới đất phục vụ ăn uống, sinh hoạt và sản xuất là 43.010 công trình, trong đó có 30.023 giếng khoan, 12.983 giếng đào, 04 điểm mạch lộ. Các tầng chứa nước được khai thác hầu hết là các tầng chứa nước lỗ hổng trong các trầm tích Holocen và Pleistocen. Các tầng chứa nước này có mức độ chứa nước từ nghèo đến trung bình. Các công trình khai thác, sử dụng nước dưới đất thường có lưu lượng trung bình phổ biến từ 1,0-5,0 m3/ngày đêm. Hiện nay, tỷ lệ cấp nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn thấp; Nguồn nước trên địa bàn đang có nguy cơ ô nhiễm bởi các nguồn thải từ các hoạt động sản xuất; Khai thác, sử dụng nước không hợp lý, thiếu quy hoạch tài nguyên nước; Sự xuống cấp của các công trình khai thác, sử dụng nước. Bên cạnh đó địa phương đang phải đối mặt với tình hình thiên tai như hạn hán, xâm nhập mặn, sự suy giảm mực nước dưới đất.
Dự báo nhu cầu và biến động khai thác, sử dụng nước đến năm 2020
Theo kết quả Điều tra hiện trạng khai thác, sử dụng nước dưới đất, Báo cáo Quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 dự báo nhu cầu sử dụng nước trong tương lai gần (đến năm 2020) vào khoảng 50.427 m3/ngày đêm (18,40 triệu m3/năm). Cụ thể:

Bảng: Dự báo nhu cầu sử dụng nước của các ngành đến năm 2020

STT
Ngành
Tổng nhu cầu
(triệu m3/năm)
Tỷ lệ sử dụng giữa các ngành (%)
1
Sinh hoạt
8,22
44,68
2
Chăn nuôi
3,95
21,47
3
Công nghiệp, dịch vụ
5,41
29,40
4
Môi trường, đô thị
0,82
4,45
Tổng cộng
18,40
100
Theo tính toán, trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất của huyện và thị xã là 244.089 m3/ngày đêm, tương đương 89,09 triệu m3/năm, so với tổng nhu cầu sử dụng nước đến năm 2020 là 18,40 triệu m3/năm, như vậy nhu cầu sử dụng nước đến năm 2020 chiếm khoảng 21% so với trữ lượng khai thác tiềm năng nước dưới đất trong khu vực, do đó nguồn nước dưới đất có thể đáp ứng đủ nhu cầu cấp nước cho địa phương đến năm 2020. Tuy nhiên, trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước cần tính đến áp lực về dân số lên tài nguyên nói chung và tài nguyên nước nói riêng, cũng như tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế, đây là vấn đề rất quan trọng khi xây dựng các quy hoạch kinh tế - xã hội nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững, lâu dài.
Các giải pháp trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất
1. Quản lý chặt chẽ việc khoan thăm dò, khai thác nước dưới đất tránh tình trạng khai thác tràn lan và nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
2. Phân vùng khai thác sử dụng, các vùng hạn chế khai thác sử dụng nước dưới đất như sau:
Vùng ven biển gồm: phía Đông các xã, phường như Quảng Xuân, Quảng Thọ, Quảng Phúc, Cảnh Dương, Quảng Hưng, Đông Nam xã Quảng Đông tầng chứa nước khai thác là tầng Holocen thượng (qh2) và phía Bắc xã Quảng Đông tầng chứa nước khai thác là tầng Holocen hạ - trung (qh1) phân bố trong các cồn cát ven biển, đây là tầng chứa nước có mức độ chứa nước nghèo đến trung bình, biến đổi mạnh theo mùa, miền cấp là nước mưa ngấm từ bề mặt xuống. Chỉ ưu tiên khai thác để cấp nước sinh hoạt, nếu cần có thể cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, hạn chế tối đa nuôi trồng thủy sản.
Vùng đồng bằng gồm các xã, phường như: Quảng Châu, Quảng Tùng, Quảng Hưng, Quảng Sơn, Quảng Minh, Quảng Hòa,...phía Tây các xã Quảng Xuân, Quảng Thọ, Quảng Phúc, đây là nơi phân bố chủ yếu của các tầng chứa nước lỗ hổng, hệ Đệ Tứ không phân chia (q), Holocen (qh) và Pleistocen (qh), có mức độ chứa nước nghèo đến giàu, chất lượng nước khá tốt có thể cung cấp nước với quy mô lớn, tuy nhiên có 1 số vùng  bị nhiễm sắt, nhiễm mặn. Chỉ khai thác tầng này với mục đích cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ, không nên khai thác phục vụ cho nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
Vùng trung du gồm các xã: Quảng Kim, Quảng Hợp, Quảng Châu, Quảng Đông,... đây là nơi phân bố các tầng chứa nước khe nứt, có diện tích lớn, chất lượng nước tốt, cần đầu tư thăm dò nguồn nước này để khai thác phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội địa phương. Nên khai thác tập trung bằng giếng khoan công nghiệp. Có thể khai thác để cung cấp cho sinh hoạt, công nghiệp và dịch vụ.
3. Điều tra, thống kê, phân loại và tổ chức trám lấp toàn bộ các giếng không sử dụng trên địa bàn. Các lỗ khoan mới thi công không có nước hoặc không sử dụng thì UBND xã yêu cầu chủ giếng trám lấp theo đúng quy định.
4. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cộng đồng. . Phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ tài nguyên nước, trước hết là ở các đô thị, các khu dân cư tập trung và các khu vực nguồn nước có biểu hiện bị ô nhiễm. Kết hợp đa dạng tài nguyên nước như nguồn nước mặt từ các hồ, đập, khe suối trên địa bàn đặc biệt đối với hoạt động sản xuất công nghiệp. Khuyến khích người dân xây dựng các công trình tích trữ nước mưa để sử dụng vì đây là nguồn nước sạch, giá thành rẻ nhằm góp phần hạn chế tình trạng khai thác nước dưới đất tràn lan, lãng phí.
5. Nghiên cứu, lập quy hoạch phân bổ và quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước dưới đất, cần điều tra, thăm dò, đánh giá trữ lượng, chất lượng nguồn nước dưới đất trước khi xây dựng các công trình khai thác cấp nước sạch tập trung.
6. Đổi mới cơ chế tài chính: Bổ sung ngân sách đầu tư cho lĩnh vực tài nguyên nước, tập trung cho việc tăng cường năng lực quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước và phòng, chống các tác hại do nước gây ra; thực hiện các dự án điều tra cơ bản, dự án quy hoạch tài nguyên nước địa phương. Tăng cường kinh phí, đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác thẩm định hồ sơ cấp giấy phép, công tác thanh tra, kiểm tra tại hiện trường trong quá trình thẩm định và sau khi cấp giấy phép. Hằng năm, bổ sung kinh phí cho việc cập nhật thông tin, số liệu về tình hình khai thác, sử dụng tài nguyên nước dưới đất cũng như các nguồn nước khác trên địa bàn.

 

 

Thanh Huyền - Phòng Tài nguyên nước

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 27

  • Tổng 10.311.379