Hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ: Nâng cao chất lượng dự báo KTTV và tìm kiếm cứu nạn trên biển

9:50, Thứ Ba, 2-2-2016

Xem với cỡ chữ : A- A A+
 Hệ thống radar biển là một hệ thống thiết bị quan trắc biển hiện đại mà Việt Nam đã lắp đặt được 3 trạm. Để khai thác triệt để những dữ liệu có được từ các trạm radar biển, nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo những hiện tượng thời tiết bất thường trên biển, đồng thời hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn, vừa qua, Trung tâm Hải Văn (Bộ TNMT) đã hợp tác với Viện hải dương học Hoa Kỳ ( thuộc Văn phòng nghiên cứu hải dương học toàn cầu của hải quân Hoa Kỳ) nhằm triển khai điều tra nghiên cứu ứng dụng mô hình hải dương học để hiệu chỉnh số liệu radar biển. Nhân dịp tổng kết 1 năm hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ về vấn đề này , Phóng viên báo TNMT đã có cuộc trao đổi với ông Trần Hồng Lam, Giám Đốc Trung Tâm Hải văn (Bộ TNMT) về triển vọng hợp tác cũng như việc ứng dụng kỹ thuật xử lý thông tin từ các trạm radar trên biển.

Ông Trần Hồng Lam, Giám Đốc Trung Tâm Hải văn (Bộ TNMT)

 Xin ông cho biết tầm quan trọng của việc hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ trong việc hợp tác ứng dụng các mô hình hải dương dọc , đồng hóa dữ liệu hải dương học  và xử lý thông tin có được từ các trạm radar trên biển Việt Nam?

Việc hợp  tác Việt Nam – Hoa Kỳ trong việc ứng dụng các mô hình thủy động lực sẽ  giải quyết được  vấn đề dự báo KTTV trên  khu vực Biển Đông, Vịnh Bắc Bộ ; đồng thời qua đó thiết lập các chương trinh điều tra, khảo sát trong khuôn khổ dự án. Hoạt động này sẽ phục vụ hữu ích cho việc đưa ra những cảnh báo, dự báo về tình hình thời tiết bất thường trên biển, phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn mà đối với Việt nam đây vẫn còn là “điểm yếu”.

Từ năm 2009 đến nay, Trung tâm hải văn được Bộ TNMT giao làm chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng hệ thống radar biển giai đoạn 1 với việc lắp đặt  3 trạm radar biển Đồng Hới, Nghi Xuân, Hòn Dáu  hoạt động với số liệu  quan trắc bề mặt dòng chảy thu được trong tầm quan trắc lên tới 300km, sóng biển 30km với tần suất báo về trung tâm tại Hà Nội 24/24.  Đây là nguồn tư liệu quý là nguyên liệu đầu vào cho các mô hình hải dương học. Tuy nhiên kết quả quan trắc sóng, dòng chảy thu được từ hệ thống radar biển vẫn là nguồn dữ liệu mới mẻ đối với Việt Nam mà chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào vận dụng và sử dụng. Vì vậy,  việc hợp tác này rất quan trọng trong việc ứng dụng hợp tác xử lý số liệu phục vụ đời sống dân sinh cũng như phục vụ công tác quản lý tổng hợp thống nhất biển, hải đảo của Bộ TNMT.

 Vậy sau một năm triển khai hợp tác, Việt nam – Hoa Kỳ đã thực hiện những hoạt động gì trên biển để  ứng dụng, xử lý và làm rõ những thông số có được từ các trạm radar biển, thưa ông?

Nhuw chúng ta đã biết, Bộ TNMT đã đầu tư giai đoạn 1 với việc lắp đaqựt 3 trạm radar biển để quan trắc các yếu tố thời gian thực về bề mặt, sóng, dòng chảy. Song việc làm của chúng ta mới chỉ là thu thập số liệu, thông tin còn việc ứng dụng xử lý thông tin, các mô hình phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thời tiết và hải văn biển thì hầu như chưa làm được. Qua chương trình hợp tác với Viện Hải dương học Hoa Kỳ, phía nước bạn đã đưa chuyên gia sang đào tạo cho Việt Nam cách vận dụng, ứng dụng và sử dụng dữ liệu thu được từ  các trạm radar biển; thu thập dữ liệu cùng thời điểm từ các thiết bị khác như ảnh vệ tinh, thiết bị quan trắc trên biển khác để đồng hóa dữ liệu, đưa vào mô hình dự báo hải dương học vùng  rộng lớn hoặc một khu vực rất nhỏ phục vụ các hoạt động dự báo bão, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, sóng trong bão, nước dâng trong bão  và phục vụ việc tìm kiếm cứu nạn trên biển, quản lý dầu tràn trên biển .

Nhìn lại 1 năm qua, các nhà khoa học Việt Nam và Hoa Kỳ  đã đào tạo  cho cán bộ Việt Nam tự mình sử dụng  được hệ thống  thiết bị mới để điều tra, khảo  sát ở một vùng biển, tự chủ được việc xử lý thông tin trên máy và trên thực địa. Trong thời gian qua đã giúp Việt Nam  cài đặt và  đào tạo cán bộ cho 3 trạm tự động  hoàn toàn mới, rất gọn nhẹ nhưng độ chính  xác rất cao.

Chúng tôi vừa được tiến sỹ John Wilkin thuộc Viện hải dương học Hoa Kỳ cho biết trong Hội thảo về việc kết quả thu thập dữ liệu một năm qua trên biển. Tiến sỹ cho rằng đã thu thập tín  hiệu và xử lý thông tin rất tốt trên khu vực biển Đông vì ở đó đã được thả phao kỹ thuật.  Tuy nhiên, vùng Vịnh bắc Bộ hầu như trống số liệu, ông đánh giá thế nào về vấn đề này?

Veef trình bầy tham luận của Wilkin, ông ấy cho biết  về việc thu thập số liệu  trên biển Đông bằng các nguồn thiết bị khác như cơ quan khí tượng  của Anh và cơ quan khí tượng Hoa Kỳ chứ không phải từ radar của Việt nam.Bởi lẽ họ đã có hợp tác đa phương toàn diện với các nước trong khu vực như Philipin, Indonexia, Malaysia …nên đã thực hiện các chuyến thả phao trôi để  thu thập tín hiệu và số liệu. Còn trong vùng biển Vịnh bắc Bộ của Việt Nam do vấn đề hợp  tác Việt Nam – Hoa kỳ chưa được tiến hành và chưa được tổ chức cho phép được  đưa các thiết bị vào Vịnh bắc bộ nên số liệu tại đây còn trống .

Vậy thời gian tới chúng ta có hợp tác với Hoa Kỳ các hoạt động này để đồng bộ dữ liệu vùng Vịnh bắc Bộ hay không, hay chỉ hợp tác phía ngoài đại dương, trên biển Đông, thưa ông?

Trong khuồn  khổ dự án này, đã có những nội dung liên quan đến việc đào tạo cho Việt nam sử dụng thiết bị phao trôi, hệ thống trạm phao, hệ thống thu thập bằng CTD, lắp đặt 3 trạm khí tượng tự động  và đã được phép hợp tác thu thập thông tin trên Vịnh bắc bộ 3 năm đầu.  Hy vọng sau sau khi dự án tiếp tục triển khai  trong vòng 3 năm tới số liệu trong Vịnh bắc Bộ sẽ hoàn toàn thích hợp để đồng hóa dữ liệu ngoài biển đông

Thưa ông, vậy mục tiêu mà dự án hướng  khi kết thúc dự án này là gì? và chúng ta kỳ vọng gì với triển vọng hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ trong lĩnh vực này?

Có thể nói đây alf một dự án hợp tác quan trọng mà chủ trương của chúng ta là mong muốn phía Hoa Kỳ đào tạo giúp một đội ngũ chuyên gia vận hành các trạm radar biển; đồng thời xây dựng và đồng háo các dữ liệu từ các hệ thống thông tin thu thập được trên biển để cảnh báo, dự báo những thời tiết bất thường trên biển, dự báo dòng chảy, dòng xoáy ven bờ và độ mạn lan truyền phục vụ công tác quản lý tổng hợp thống nhất biển, hải đảo.

Trước mắt  sẽ thực hiện trên vùng biển phái bắc và lan truyền tới các vùng biển phía Nam. Tôi tin tưởng rằng, sau dự án này sẽ có những hợp tác sâu rộng hơn nữa giữa các chuyên gia, nhà khoa học hai nước về  ứng dụng các mô hình hải dương học vào cuộc sống .

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Kim Liên (Thực hiện)

Nguồn tin: www.monre.gov.vn

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 268

  • Tổng 10.313.374