Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về biển, hải đảo tỉnh Quảng Bình.

15:9, Thứ Năm, 16-10-2014

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Quảng Bình là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Bắc Trung Bộ và là một trong 28 tỉnh, thành phố ven biển nước ta. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh 8.065,26km2, có 4/6 huyện và thành phố Đồng Hới tiếp giáp biển với tổng chiều dài trên 116 km. Dọc theo bờ biển có nhiều bãi cát đẹp, có vịnh Hòn La, có 5 cửa sông chính và 5 hòn đảo nhỏ ven bờ (tổng diện tích hơn 185 ha) tạo nên hệ sinh thái ven biển đa dạng, phong phú về loài với hơn 1605 loài, trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế cao, vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế rộng gấp 2,6 lần diện tích đất liền tạo thành một ngư trường khai thác hải sản với trữ lượng khoảng 10 vạn tấn.
Vùng ven biển có tiềm năng lớn để phát triển phong điện, đặc biệt có Cảng biển Quốc gia Hòn La giai đoạn I đã được đưa vào sử dụng và khai thác hết công suất, hiện nay đang chuẩn bị đầu tư để đón tàu trên 10 vạn tấn qua đó góp phần thúc đẩy Khu kinh tế Hòn La phát triển, tiến tới hình thành vùng kinh tế động lực Nam Hà Tỉnh-Bắc Quảng Bình; đồng thời kết nối vùng Đông Bắc Thái Lan với Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo, Quốc Lộ 12A về cảng biển Hòn La. Như vậy, biển Quảng Bình vừa có tiềm năng phát triển kinh tế, du lịch biển đồng thời cũng là địa bàn chiến lược quan trọng để củng cố quốc phòng, an ninh.

Để khai thác tiềm năng và lợi thế đó, thời gian qua công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo đã tích cực được triển khai, dần đi vào ổn định và bước đầu đạt được một số kết quả sau: Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành TW Đảng Khóa X về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, ngày 10/9/2007, Tỉnh uỷ Quảng Bình đã ban hành Chương trình hành động số 13-CTr/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TW và Uỷ ban nhân dân tỉnh đã có Quyết định số 351/QĐ-UBND về Ban hành Chương trình hành động của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ và Chương trình hành động số 13/CTr-TU ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Tỉnh uỷ Quảng Bình về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh; đây là cơ sở, định hướng và triển khai nhiệm vụ quản lý nhà nước về biển và hải đảo của tỉnh thời gian qua và những năm tiếp theo. Triển khai thực hiện Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 06/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải và Quyết định 158/2007/TTg ngày 9/10/2007 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 07/01/2011, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Bình đã tham mưu trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt dự án Quản lý tổng hợp dải ven biển tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 (tại Quyết định số 58/QĐ-UBND, ngày 07/01/2011) với tổng kinh phí là 11.223.000.000 ( mười một tỷ hai trăm hai mươi ba triệu đồng). Đồng thời, Sở đã phối hợp cùng các đơn vị tư vấn tiến hành khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, tổ chức các hội nghị tập huấn, hội thảo góp ý dự án Xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động quản lý tổng hợp đới bờ tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030. Các dự án “Điều tra, đánh giá tài nguyên-môi trường vùng ven biển phục vụ quản lý tổng hợp vùng bờ tỉnh Quảng Bình”; “Điều tra, đánh giá hiện tượng xói lở bờ biển tỉnh Quảng Bình”; “Xây dựng kế hoạch hợp tác quốc tế về biển tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020” đang hoàn thiện bước lập dự án trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện trong thời gian tới. Tỉnh đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo tổ chức thành công Tuần lễ biển và hải đảo năm 2010; Hội nghị góp ý dự thảo Luật Tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; xây dựng và hoàn thành trạm Rađa biển Bảo Ninh đưa vào hoạt động góp phần quản lý trật tự, an ninh trên biển; theo dõi và ứng phó với tình hình bão, lũ. Về công tác bảo vệ môi trường biển, ven biển: Hàng năm, tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành và các huyện, thành phố Đồng Hới tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo (1-8/6), ngày Đại dương thế giới (8/6), Chương trình làm cho thế giới sạch hơn…Tại một số địa phương ven biển đã thành lập các tổ tự quản và dịch vụ thu gom rác thải nhằm giữ gìn các bãi tắm ven biển. Một số dự án đầu tư ven biển và du lịch biển đã thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường biển.

Tuy nhiên, thời gian qua công tác quản lý nhà nước tổng hợp về Biển và Hải đảo trên địa bàn tỉnh còn gặp những khó khăn, tồn tại sau: Nghị định số 25/2009/NĐ-CP đã qua hơn 3 năm thực hiện, tuy nhiên Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa có đầy đủ các Thông tư để hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện cụ thể. Vì vậy, cơ chế phối hợp giữa các Sở, ban, ngành tại các địa phương có biển rất lúng túng đặc biệt là việc triển khai chức năng quản lý nhà nước thống nhất về biển và hải đảo của Sở Tài nguyên và Môi trường; Công tác xây dựng quy hoạch không gian biển, kế hoạch phát triển kinh tế biển và các vùng ven biển chưa được triển khai. Vấn đề ngân sách nhà nước cho việc quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí sự nghiệp kinh tế đối với lĩnh vực biển vào hải đảo chưa được hướng dẫn cụ thể; vốn đầu tư phát triển các chương trình, dự án và xây dựng các công trình kinh tế trọng điểm đồng bộ tại vùng biển và ven biển chưa nhiều. Việc quy định cụ thể cho công tác điều tra cơ bản về thềm lục địa, biển, quản lý dữ liệu, quan trắc môi trường, tổ chức quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường biển chưa đủ; đặc biệt là hướng dẫn các tỉnh có biển trong việc phân giới vùng quản lý biển giữa các tỉnh, giám sát, thanh tra và cưỡng chế việc tuân thủ pháp luật trong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển chưa có. Vùng ven biển Quảng Bình là một trong những nơi chịu thiệt hại nhiều do các sự cố thiên tai như bão, lũ, áp thấp nhiệt đới, nước biển dâng do biến đổi khí hậu,... Hiện tượng xói lở các bờ sông, cửa biển (Nhân Trạch, Cảnh Dương, Thanh Trạch, Phú Hải...) và hiện tượng bồi lắng làm thay đổi cửa sông (Lý Hoà, Sông Dinh, Nhật Lệ...) đang diễn ra ngày một nghiêm trọng gây ra thiệt hại nặng nề cho địa phương cả về người và của, đặc biệt là 20 xã ven biển. Ô nhiễm môi trường tại các bến cảng, bến chợ, cửa sông, vùng dân cư tập trung ven biển đang có xu hướng gia tăng. Nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản ven sông, ven biển; các loại rác thải từ lục địa do lũ cuốn trôi...trực tiếp thải vào vùng biển ven bờ,... đã làm suy thoái các hệ sinh thái ven biển và chất lượng nước mặt vùng biển ven bờ. Các hệ sinh thái tự nhiên tốt cho nơi cư trú, sinh sản của các loài hải sản như: rạn san hô, rong biển, thảm cỏ biển, vùng đất ngập nước, rừng ngập mặn... chưa được điều tra, đánh giá cụ thể. Hợp tác trong và ngoài nước trên lĩnh vực khoa học công nghệ biển, điều tra cơ bản tài nguyên-môi trường biển trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, kinh nghiệm quản lý tổng hợp vùng bờ còn thiếu.

Nguyên nhân chính của những tồn tại và bất cập trên là do: Phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất là một phương thức quản lý khá mới đối với Việt Nam. Vì vậy, khi đưa vào áp dụng bước đầu còn lúng túng; đội ngủ làm công tác quản lý biển và hải đảo chưa được đào tạo đúng chuyên ngành (vì chưa có chuyên ngành quản lý tài nguyên môi trường biển và hải đảo tại các trường đại học ở Việt Nam); Hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước trong lĩnh vực biển và hải đảo còn mỏng, chưa được hoàn thiện (chưa ban hành Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo, mới chỉ có 01 Nghị định); nhận thức của một bộ phận không nhỏ của cán bộ, nhân dân về vai trò, vị trí của biển đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, bảo vệ môi trường còn hạn chế; nguồn lực đầu tư cho quản lý nhà nước về biển còn ít (chưa có mục ngân sách nhà nước cho sự nghiệp kinh tế đối với lĩnh vực biển và hải đảo).

Nhằm đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về biển, hải đảo cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Nghị quyết 09-NQ/TW về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Luật Biển Việt Nam năm 2012 và các văn bản pháp luật về biển, hải đảo nhằm nâng cao nhận thức cho cộng đồng các địa phương về vai trò, vị trí của biển, việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển, hải đảo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

2. Tích cực huy động các nguồn vốn từ Trung ương, các tổ chức quốc tế và nhân dân để thực hiện Chương trình Quản lý tổng hợp vùng bờ tỉnh Quảng Bình; hoàn thiện chiến lược và kế hoạch hành động quản lý tổng hợp vùng bờ tỉnh Quảng Bình; các dự án, công trình khác tại vùng biển và ven biển của tỉnh.

3. Tiến hành khảo sát, điều tra, đánh giá cụ thể về tài nguyên môi trường biển của tỉnh để xây dựng cở sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển, xây dựng các vùng bảo tồn các loài sinh vật biển quý hiếm và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển, kết hợp công tác an ninh- quốc phòng, bảo vệ chủ quyền biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh.

4. Đẩy mạnh ứng dụng các giải pháp khoa học và công nghệ tiên tiến trong khai thác tiềm năng và bảo vệ tài nguyên - môi trường biển: Xây dựng công trình trên biển, dự báo, thăm dò khoáng sản và nguồn lợi hải sản, ứng dụng công nghệ vệ tinh màu nước dự báo ngư trường, công nghệ nuôi trồng thuỷ sản năng suất cao không gây ô nhiễm môi trường, chuyển đổi nghề trong khai thác, phát triển các nguồn năng lượng sạch có nguồn gốc từ biển (gió, sóng, thuỷ triều, dòng chảy...), tách chiết các hợp chất thiên nhiên có giá trị cao từ nguồn vật liệu biển và chế biến các sản phẩm biển. Đầu tư nâng cấp các loại thiết bị, công nghệ tiên tiến cho Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường để tiến hành quan trắc môi trường biển.

5. Khẩn trương kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về biển, hải đảo của tỉnh; chú trọng tuyển dụng và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức có chuyên môn, tham mưu ổn định công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường biển từ tỉnh, huyện đến các xã, phường, thị trấn.

6. Tăng cường hợp tác quốc tế về biển, nhất là với các nước trong khu vực Biển Đông nhằm thu hút được nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong việc điều tra cơ bản, quản lý tổng hợp, khai thác, bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển, giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đảm bảo an ninh, an toàn sản xuất trên biển tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và phát triển kinh tế biển của tỉnh nhà./.

Tác giả bài viết: Phan Đình Hùng

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 1

  • Hôm nay 7432

  • Tổng 10.299.429