Tăng cường công tác quản lý về biển và hải đảo

8:24, Thứ Sáu, 17-10-2014

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Đới bờ (ven bờ) rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội mỗi tỉnh, thành vì những nguồn tài nguyên hiếm có của nó. Đối với tỉnh ta là một địa phương ven biển Bắc Trung bộ, với diện tích tự nhiên 8.065km2, trong đó, vùng đất cát ven biển có diện tích 37.243 ha, chiếm 4,63% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Ngoài ra, tiềm năng về tài nguyên môi trường biển khá phong phú với đường bờ biển dài 116,04 km và vùng đặc quyền lãnh hải khoảng 20.000 km2, gấp 2,5 lần diện tích đất liền. Ven biển còn có các đảo: Hòn La, Hòn Cỏ, Hòn Nồm, Hòn Gió, Hòn Vũng Chùa và Khu kinh tế Hòn La chính là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.

 

Với những vùng đồng bằng ven biển màu mỡ và các nguồn tài nguyên biển phong phú, cộng với khả năng tiếp cận thị trường quốc tế một cách dễ dàng thông qua Cảng biển Hòn La và các cảng vận tải nội địa, đới bờ của tỉnh ta đã và vẫn đang thu hút sự quan tâm của nhiều dự án.

Vùng ven biển tỉnh ta có trữ lượng hải sản tương đối lớn và có hầu hết các loại hải sản có mặt ở Việt Nam với trữ lượng gần 10 vạn tấn hải sản và gần 1.000 loài, trong đó nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và quý hiếm như: tôm hùm, tôm sú, mực nang, mực ống... Ngoài ra, dải ven biển có trên 4.000 ha mặt nước mặn, lợ và khoảng 4.000 ha đất cát có thể phát triển nuôi trồng thủy sản mặn, lợ.

Cùng với trữ lượng hải sản tương đối lớn thì các loại tài nguyên khoáng sản ven biển như: than bùn (khoảng 300 nghìn tấn), titan (khoảng 114.000 tấn), cát thạch anh trắng (dự báo cấp P khoảng 106 triệu tấn), dầu khí... cũng có trữ lượng khá lớn. Đặc biệt, vùng ven biển cũng là nơi tập trung phần lớn tiềm năng du lịch của tỉnh với 8 khu di tích lịch sử văn hóa, các khu danh lam thắng cảnh như: Đèo Ngang, Lý Hòa, cửa Nhật Lệ ngoài vẻ đẹp kỳ vĩ do thiên nhiên ban tặng còn có giá trị bảo tồn về kiến trúc, nghệ thuật, khảo cổ và lịch sử...

Với tiềm năng về nguồn tài nguyên biển nói trên, tỉnh đã tăng cường công tác quản lý nhà nước, thống nhất biển và hải đảo để từ đó đề ra những chủ trương, chính sách nhằm đưa nền kinh tế biển của tỉnh nhà hòa chung với tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế biển của khu vực và thế giới.

Theo đó, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa X) của Đảng về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”; triển khai thực hiện Quyết định 158/2007/QĐ-TTg ngày 9-10-2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Chủ tịch UBND tỉnh đã có Quyết định số 3131/QĐ-CT về việc phê duyệt dự án “Xây dựng chiến lược và kế hoạch hành động quản lý tổng hợp đới bờ tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2012-2020, định hướng đến năm 2030” do Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì.

Bên cạnh đó, các đơn vị, địa phương liên quan cũng đã chủ động trong công tác tuyên truyền về pháp luật, đường lối, chủ trương chính sách quản lý về biển, đảo với nhiều hình thức đa dạng. Đồng thời, các đơn vị xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng biển, trên biển và hải đảo nhằm tăng cường quản lý nhà nước về biển và hải đảo.

Tuy nhiên, công tác quản lý biển và hải đảo hiện nay vẫn còn có những hạn chế và tồn tại. Đó là tình hình khai thác và sử dụng biển và hải đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững; môi trường biển bị biến đổi theo chiều hướng xấu; đa dạng sinh học biển và nguồn lợi hải sản giảm sút; sự tham gia của cộng đồng địa phương vào tiến trình quản lý hoàn toàn thụ động và không thường xuyên.

Nguyên nhân của những hạn chế là do thể chế chính sách pháp luật về biển và hải đảo còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, thiếu quy chế phối hợp trong một hệ thống thống nhất do ngành Tài nguyên và Môi trường làm đầu mối; cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo chưa được thành lập nên chưa đủ mạnh; đội ngũ công chức còn thiếu và hạn chế kỹ năng triển khai công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo; trang thiết bị phục vụ công tác chuyên môn còn thiếu, đặc biệt là các trang thiết bị chuyên ngành.

Trong khi đó, tầm quan trọng của đới bờ sẽ ngày càng lớn hơn do nơi đây vừa là không gian cung cấp các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cho hoạt động của con người và vừa có chức năng điều hòa môi trường tự nhiên, cũng như nhân tạo. Đồng thời, vùng bờ cũng là một hệ thống có nhiều đối tượng cùng sử dụng. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về biển và hải đảo, trong thời gian tới tỉnh sẽ tiếp tục triển khai thực hiện tốt và đồng bộ nhiều giải pháp thiết thực.

Trước hết, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách về quản lý biển và hải đảo nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về biển và hải đảo ở nước ta nói chung và ở tỉnh nói riêng. Cụ thể là thực hiện rà soát, sửa đổi, bổ sung, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về biển và hải đảo phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc tế về biển. Từ đó, tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh để quản lý, khai thác, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; tạo điều kiện cho việc tăng cường khả năng kiểm soát biển nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự trên biển.


Bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển là góp phần tăng cường công tác quản lý biển và hải đảo.

Cùng với đó, xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách như: bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển; chính sách đồng quản lý tài nguyên và môi trường biển dựa vào cộng đồng; cơ chế phối hợp trong việc khắc phục hậu quả thiên tai, đặc biệt là hậu quả do biến đổi khí hậu gây ra; chính sách khuyến khích bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái biển để tạo nên những hệ sinh thái tự nhiên vùng bờ quan trọng cho môi trường biển của tỉnh...

Đặc biệt, UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình để tập trung vào việc xây dựng một số cơ chế phối hợp giữa các ngành, các địa phương trong việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế, kết hợp đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và trong việc quy hoạch các khu đô thị ven biển, quy hoạch các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển.

Song song, hỗ trợ các ngành, địa phương tích cực hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để xây dựng bổ sung chiến lược, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển và khuyến khích các tổ chức, cá nhân áp dụng công nghệ sạch trong quá trình khai thác, sử dụng biển và hải đảo. Một trong những giải pháp thiết thực nữa là tăng cường năng lực cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo. Cán bộ, công chức là yếu tố đặc biệt quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý biển và hải đảo ở Việt Nam nói chung, ở tỉnh ta nói riêng. Chính vì vậy, tăng cường năng lực công chức làm công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo là đòi hỏi bức thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.

Bên cạnh đó, ưu tiên đầu tư nâng cấp trang thiết bị chuyên ngành; đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học nhằm nâng cao chất lượng điều tra, quan trắc, dự báo về tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh; trang bị các phương tiện quan trọng để sử dụng tuần tra, xử lý các vi phạm về khai thác tài nguyên, môi trường biển, hải đảo... sẽ góp phần bảo đảm quốc phòng - an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên vùng biển của tỉnh.

Đáng nói hơn, công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo cần nguồn lực rất lớn về tài chính, vì vậy, việc huy động, lồng ghép các nguồn vốn xã hội (ngoài nguồn ngân sách hàng năm) chính là nguồn lực tổng hợp hiệu quả để đầu tư phát triển vùng biển, đảo và triển khai các dự án nhằm quản lý khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn của tỉnh.
Tác giả bài viết: N.L

Nguồn tin: www.baoquangbinh.vn

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 6317

  • Tổng 10.298.358