Quy định phương pháp tính, phương thức thu, chế độ quản lý và sử dụng tiền sử dụng khu vực biển

11:23, Thứ Ba, 29-3-2016

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Triển khai thực hiện Luật Biển Việt Nam và Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/05/2014 của Chính phủ, ngày 07/12/2015, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài chính đã phối hợp ban hành Thông tư liên tịch số 198/2015/TTLT-BTC-BTNMT quy định phương pháp tính, phương thức thu, chế độ quản lý và sử dụng tiền sử dụng khu vực biển khi tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý nhà nước hoặc cấp có thẩm quyền giao khu vực biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển. Thông tư này gồm 03 Chương, 13 Điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/01/2016. 

Theo quy định tại Thông tư, các hoạt động sử dụng biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải nộp tiền sử dụng khu vực biển được phân thành 06 nhóm, cụ thể:

- Nhóm 1: Sử dụng khu vực biển để khai thác năng lượng gió, sóng, thủy triều, dòng hải lưu;

- Nhóm 2: Sử dụng khu vực biển để xây dựng hệ thống ống dẫn ngầm, lắp đặt cáp viễn thông, cáp điện;

- Nhóm 3: Sử dụng khu vực biển để xây dựng các công trình nổi, ngầm, đảo nhân tạo, công trình xây dựng dân dụng trên biển, các hoạt động lấn biển;

- Nhóm 4: Sử dụng biển để làm vùng nước cảng biển, cảng nổi, cảng dầu khí và các cảng, bến khác (gồm: vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, vùng đón trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch; vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình phụ trợ khác), vùng nước phục vụ hoạt động cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu biển, xây dựng cảng cá, bến cá; vùng nước phục vụ hoạt động vui chơi, giải trí, đón trả khách, khu neo đậu, trú nghỉ đêm của tàu thuyền du lịch; thăm dò, khai thác khoáng sản, khai thác nước biển làm mát cho các nhà máy; trục vớt hiện vật, khảo cổ;

- Nhóm 5: Sử dụng khu vực biển để đổ thải bùn nạo vét;

- Nhóm 6: Các hoạt động sử dụng khu vực biển khác.

Khung giá áp dụng và mức thu tiền sử dụng khu vực biển (từ 3.000.000 đồng/ha/năm đến 7.500.000đồng/ha/năm), cụ thể:

- Nhóm 1: từ 3.000.000 đồng/ha/năm đến 7.500.000 đồng/ha/năm;

- Nhóm 2: từ 4.000.000 đồng/ha/năm đến 7.500.000 đồng/ha/năm;

- Nhóm 3: từ 5.000.000 đồng/ha/năm đến 7.500.000 đồng/ha/năm;

- Nhóm 4: từ 6.000.000 đồng/ha/năm đến 7.500.000 đồng/ha/năm;

- Nhóm 5: 7.500.000 đồng/ha/năm và sẽ được điều chỉnh khi Nhà nước điều chỉnh khu giá tính tiền sử dụng khu vực biển;

- Nhóm 6: từ 3.000.000 đồng/ha/năm đến 7.500.000 đồng/ha/năm;

Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan có liên quan xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành hàng năm mức thu tiền sử dụng khu vực biển trên địa bàn thuộc thẩm quyền giao của địa phương sau khi có ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.

Tiền sử dụng khu vực biển được tính từ thời điểm quyết định giao khu vực biển của cơ quan quản lý nhà nước hoặc cấp có thẩm quyền có hiệu lực thi hành. Có 02 hình thức trả tiền sử dụng khu vực biển là trả tiền hàng năm và trả tiền một lần cho thời hạn được giao khu vực biển.

Trong thời gian không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định giao khu vực biển của cơ quan quản lý nhà nước hoặc cấp có thẩm quyền giao khu vực biển do cơ quan tiếp nhận hồ sơ giao khu vực biển gửi đến, cơ quan thuế quản lý trực tiếp của địa phương ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng khu vực biển.

Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm nộp tiền sử dụng khu vực biển vào ngân sách nhà nước trong thời hạn theo Thông báo của cơ quan Thuế, trường hợp quá thời hạn này mà tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp.

Tiền sử dụng khu vực biển là một khoản thu của ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Bên cạnh đó, Thông tư có quy định xử lý đối với các trường hợp gia hạn, trả lại khu vực biển, thu hồi khu vực biển; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong công tác tính, thu, nộp tiền sử dụng khu vực biển. Đồng thời, Thông tư cũng quy định xử lý chuyển tiếp đối với một số trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng khu vực biển thuộc đối tượng phải nộp tiền thuê mặt nước theo quy định tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP.

Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới./. 

Xem Thông tư tại đây

Phương Thuỳ - Chi cục Biển và Hải đảo

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 2

  • Hôm nay 101

  • Tổng 10.310.962