Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
Hết lòng vì một dòng chảy
Trong nông nghiệp, nước tưới là yếu đặc biệt quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng và là nhân tố có tính quyết định đến năng suất, sản lượng và giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác. Vì vậy để nghề trồng trọt nói chung và trồng lúa nói riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao phải dựa vào các công trình thủy lợi và vấn đề này đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư. Hàng ngàn hồ chứa nước lớn, nhỏ đã được xây dựng ở các tỉnh, thành phố trong cả nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Và để công trình phát huy hiệu quả, trong quá trình vận hành sử dụng cần được bảo vệ, sửa chữa, nâng cấp, đồng thời với việc phân phối nước tiết kiệm, hợp lý; và trách nhiệm của người hưởng lợi đối với công tác này cũng không kém phần quan trọng. Mặc dù vậy, do một bộ phận người dân hạn chế về nhận thức nên đâu đó nhiều hạng mục công trình thủy lợi còn bị xâm hại, gâu hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, bên cạnh đó nổi lên những tấm gương sáng trong bảo vệ kênh mương, góp phần đảm bảo tưới tiêu ở các địa phương. Ông Phạm Văn Dị ở thôn La Hà Tây, xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn là một trong những người như thế.

Ông Phạm Van Dị đang vớt rác trên kênh
Xã Quảng Văn có 4 thôn, 1.350 hộ dân với trên 6.000 nhân khẩu, trong đó thôn Văn Phú sống bằng nghề khai thác thủy sản trên sông biển còn lại 3 thôn sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp hạn chế, toàn xã chỉ có 80 héc ta đất có thể trồng lúa, trong đó một số diện tích chỉ sản xuất được một vụ. Cùng với đó, địa hình được bao bọc bởi hai nhánh con Sông Gianh huyền thoại, trầm mặc, bốn mùa gió lộng nhưng lại gần hạ nguồn nên đất đai rất dễ bị nhiễm mặn. Được sự quan tâm của tỉnh và ngành chuyên môn, những năm lại đây nguồn nước từ công trình thủy lợi Rào Nan đã được cấp về tận ruộng để phục vụ bà con gieo trồng. Chủ động khâu nước tưới, nông nghiệp địa phương có điều kiện thâm canh tăng năng suất, từng bước cân đối được lương thực trên địa bàn, đời sống người dân ổn định và ngày một cải thiện. Bà con nông dân nơi đây biết ơn Đảng, Nhà nước, ra sức bảo vệ hệ thống kênh mương cấp 1 và nội đồng nhằm đảm bảo sản xuất bền vững. Tuy nhiên, để đưa được nước từ công trình đầu mối về tận đồng ruộng xã Quảng Văn, hệ thống kênh mương phải đi qua 2 xã khác trên địa bàn là Quảng Sơn và Quảng Thủy. Mặt nữa, do địa hình phức tạp, nước phải dẫn qua sông bằng hệ thống cầu máng và có những đoạn kênh mương đi qua khu dân cư của các xã này. Trong khi ý thức của một số người dân chưa cao, thường xuyên vứt rác thải bừa bãi xuống lòng kênh, không những gây ô nhiễm vệ sinh môi trường chung mà còn làm ách tắc dòng chảy. Về phía Thủy Nông, để các xã trên địa bàn triển khai sản xuất kịp thời vụ, Ban quản lý công trình thường phân phối nước cho các vùng theo lịch và ấn định số ngày cấp nước nhất định cho từng địa phương. Nếu kênh mương có vấn đề, nước chảy không thông suốt thì trong cùng một thời gian cấp nước có nơi có thể thiếu nước cục bộ, ảnh hưởng rất lớn đến thời vụ, năng suất và chất lượng sản phẩm. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tưới tiêu, trong nhiều năm qua ông Phạm Văn Dị ở thôn La Hà Tây; một trong 7 thủy nông viên xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồ đã tích cực tuần tra, thường xuyên vớt rác thải trên 2 km kênh mương (bao gồm cả những phần không thuộc diện ông quản lý). Việc làm của ông đã góp phần đảm bảo nước tưới cho sản xuất. Được hỏi, động cơ nào đã thúc đẩy ông tự nguyện làm tốt công tác này, ông Dị vui vẽ cho biết: “Quảng Văn ở cuối nguồn cung cấp nước của công trình thủy lợi Rào Nan, bình thường nước đã yếu, khi hệ thống kênh mương có sự cố nước càng yếu hơn. Lịch cấp nước đã được ấn định, cứ hết thời gian quy định là họ đóng cống, nếu kênh không thông suốt nhất định không đủ nước cho sản xuất. Qua nghiên cứu thực địa thấy rác thải được đóng bao, người dân vứt xuống mương từ đầu nguồn trôi về khá nhiều làm ùn tắc dòng chảy. Không còn cách nào khác tôi báo cáo cấp trên để có biện pháp hạn chế, đồng thời xắn tay lên khơi thông kênh mương để bà con có nước sản xuất. Ban đầu lượng rác chỉ mức độ thì xử lý bằng cách để khô rồi đốt, sau này nhiều quá phải xin ô tô chở đi đổ ở bãi rác”. Ông Mai Xuân Quang, Chủ tịch Hội Nông dân xã Quảng Văn cho biết thêm: “thực trạng nạn rác thải đã gây khó khăn không ít đối môi trường chung và kênh dẫn nước nói riêng nhưng không phải do người dân trên địa bàn xã gây ra mà do các xã khác nên chưa có giải pháp giải quyết dứt điểm. Ông Dị là một thủy nông viên đã gần 60 tuổi nhưng rất năng nổ nhiệt tình với công việc được giao. Mặc dù phụ cấp thủy nông chỉ 2,2 triệu đồng mỗi năm nhưng ông thường xuyên dành thời gian tuần tra vớt rác khơi thông dòng chảy.
Có thể nói, mặc dù kinh tế ông Phạm Văn Dị chưa mấy khá dã, ngoài công tác thủy nông viên, ông phải cùng gia đình lăn lộn đồng áng và làm thêm nghề nón truyền thống để có thu nhập trang trải mọi chi tiêu. Nhưng do tâm đắc với nghề ông đã biến nổi lo của mình thành nỗi lo chung, từ việc làm tự nguyện ông được lãnh đạo địa phương khen ngợi, bà con nông dân hoan nghênh và là tấm gương sáng để nhiều cán bộ, nhân viên thủy nông học tập làm theo ./.
Đặng Văn Huế
Nguồn trang TT Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Bình
- hực trạng công tác quản lý và phạm vi bảo vệ đê điều trên địa bàn tỉnh (24/12/2025)
- Tình hình thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí các địa phương đơn vị (24/12/2025)
- Thực trạng hư hỏng hệ thống đê, kè biển ở tỉnh ta (24/12/2025)
- Tình hình chấp hành pháp luật của địa phương trong công tác quản lý đối với công trình thủy lợi, đê điều (24/12/2025)
- Một số giải pháp phòng, chống hạn vụ Hè Thu (24/12/2025)
- Tình hình hư hỏng, xuống cấp các hồ đập trước mùa mưa bão (24/12/2025)
- Chi cục Thủy sản (24/12/2025)
- Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Bình phối hợp với chính quyền địa phương đã thả một con rùa quý hiếm về biển (24/12/2025)
- An toàn vệ sinh thực phẩm trong nuôi trồng thủy sản, vấn đề cần quan tâm (24/12/2025)
- Tuyên truyền về phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu hộ cứu nạn trên biển (24/12/2025)


