BẢN TỔNG HỢP Ý KIẾN, TIẾP THU, GIẢI TRÌNH Ý KIẾN GÓP Ý ĐỐI VỚI DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT QUY ĐỊNH MỨC HỖ TRỢ ĐỐI VỚI ĐỘNG VẬT, SẢN PHẨM ĐỘNG VẬT; MỨC HỖ TRỢ CHO NGƯỜI THAM GIA KHẮC PHỤC DỊCH BỆNH ĐỘNG VẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ

Post date: 04/05/2026

Font size : A- A A+

 Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức lấy ý kiến đối với hồ sơ Dự thảo Tờ trình và Dự thảo Nghị quyết Ban hành Quy định mức hỗ trợ đối với động vật, sản phẩm động vật; mức hỗ trợ cho người tham gia khắc phục dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

1. Tổng số cơ quan, tổ chức, địa phương đã gửi xin ý kiến và tổng số ý kiến nhận được:

- Tổng số cơ quan, tổ chức, địa phương đã gửi xin ý kiến: 156 đơn vị

- Tổng số cơ quan, tổ chức, địa phương có ý kiến: 56 đơn vị

2. Kết quả cụ thể như sau:

TT

CHÍNH SÁCH NHÓM VẤN ĐỀ HOẶC ĐIỀU, KHOẢN

CHỦ THỂ GÓP Ý

NỘI DUNG GÓP Ý

NỘI DUNG TIẾP THU,
GIẢI TRÌNH

1

Về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản QPPL của dự thảo Nghị quyết

1.1

Về thể thức, kỹ thuật trình bày VBQPPL của dự thảo Nghị quyết

Sở Tư pháp
 (văn bản số 1005/STP-QLVB ngày 30/3/2026)

Đề nghị bỏ cụm từ “HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ KHÓA VIII, KỲ HỌP THỨ…” cho phù hợp với mẫu 17 Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 187/2025/NĐ-CP; rà soát để sửa cụm từ “Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị khóa VIII” thành “Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị khóa IX”; sửa cụm từ “Luật Thú y số 79/2015/QH1” thành “Luật Thú y số 79/2015/QH13” tại căn cứ pháp lý thứ 4.

Đề nghị đánh số trang đối với dự thảo Nghị quyết theo đúng quy định tại khoản 7 tiểu mục I Mục 1 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 78/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP (không đánh số trang thứ nhất); trình bày từ m2 tại khoản 2 Điều 5 dự thảo cho phù hợp.
   Về viện dẫn văn bản: Đề nghị căn cứ Điều 68 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP để bỏ cụm từ “của Chính phủ” tại Điều 1 dự thảo.

Phần nơi nhận: Đề nghị sửa “Cục Kiểm tra VBQPPL – Bộ Tư pháp” thành “Cục Kiểm tra VBQPPL và Tổ chức thi hành pháp luật – Bộ Tư pháp” do tên Cục đã thay đổi; sửa “Báo và Phát thanh – Truyền hình tỉnh” thành “Báo và Phát thanh – Truyền hình Quảng Trị”; bổ sung Vụ Pháp chế (Bộ NN&MT)

Tiếp thu, chỉnh sửa trong Dự thảo Nghị quyết.

1.2

Về thể thức, kỹ thuật trình bày VBQPPL của dự thảo Nghị quyết

Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Trị (văn bản số 402/MTTQ-BTT ngày 3/4/2026

Đề nghị bỏ cụm từ: “Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Trị khoá VIII, kỳ họp thứ…” ở phía dưới cụm từ “Nghị quyết Quy định mức hỗ trợ đối với động vật, sản phẩm động vật; mức hỗ trợ cho người tham gia khắc phục dịch bệnh động vật trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” để đảm bảo đúng với thể thức quy định tại Mẫu số 17 Phụ lục III (Kèm theo Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP của Chính phủ).

Tiếp thu, chỉnh sửa trong Dự thảo Nghị quyết.

2

Về trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản QPPL và hồ sơ khi gửi Sở Tư pháp thẩm định

Sở Tư pháp
 (văn bản số 1005/STP-QLVB ngày 30/3/2026)

-  Đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường căn cứ quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP để trình bày và hoàn thiện các thành phần hồ sơ theo đúng mẫu và đúng quy định trước khi gửi Sở Tư pháp thẩm định (lưu ý đề nghị căn cứ Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định số 187/2025/NĐ-CP để chuẩn bị các thành phần hồ sơ cho phù hợp; về hồ sơ gửi thẩm định, ngoài bản điện tử, đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường đồng thời gửi một bộ hồ sơ bằng bản giấy theo quy định)

- Về đối tượng lấy ý kiến: Đề nghị lấy thêm ý kiến của Sở Khoa học và Công nghệ về việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo đúng quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP.

- Tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ gửi Sở Tư pháp thẩm định theo quy định.

- Tiếp thu, ngày 31/3/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã có Công văn số 2776/SNNMT-CNTY gửi Sở Khoa học và Công nghệ về lấy ý kiến góp ý về dự thảo Nghị quyết. Đến ngày 01/4/2026, Sở Khoa học và Công nghệ đã gửi văn bản góp ý (văn bản số 931/SKHCN-QLCN&ĐMST ngày 27/3/2026 và văn bản số 1010/KHCN-QLCN&ĐMST ngày 31/3/2026)

3

Về nội dung của dự thảo Nghị quyết

3.1

Tại Điều 3 và Điều 4 dự thảo Nghị quyết

Sở Tư pháp
 (văn bản số 1005/STP-QLVB ngày 30/3/2026)

Đề nghị bỏ Điều 3 và Điều 4 dự thảo vì các nội dung
 này đã được quy định tại Điều 4 và Điều 5 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP và không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo này.

Tiếp thu, chỉnh sửa trong Dự thảo Nghị quyết.

3.2

Tại khoản 1 Điều 5 dự thảo Nghị quyết

Sở Khoa học và Công  nghệ (văn bản số 31/SKHCN-QLCN&ĐMST ngày 27/3/2026 và văn bản số 1010/KHCN-QLCN&ĐMST ngày 31/3/2026)

- Tại khoản 1 Điều 5 (Mức hỗ trợ đối với động vật trên cạn), đề nghị cân nhắc điều chỉnh quy định mức hỗ trợ đối với động vật trên cạn theo hướng phân loại cụ thể theo mục đích sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi, thay vì quy định chung theo kilogram hơi như dự thảo. Do đó, cần xem xét tách riêng các nhóm vật nuôi giống (trâu, bò giống, lợn nái, gia cầm giống,…), vật nuôi thương phẩm, vật nuôi đặc sản để xây dựng mức hỗ trợ phù hợp, bảo đảm công bằng giữa các đối tượng trong sản xuất. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh theo hướng này tương đồng với cách tiếp cận trong lĩnh vực thủy sản, nơi đã quy định cụ thể theo từng nhóm như giống, thương phẩm, hình thức nuôi (quảng canh, thâm canh, mật độ nuôi,…), qua đó bảo đảm tính thống nhất của chính sách và nâng cao tính khả thi khi triển khai thực tế.

- Đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định tại Điều 5 theo hướng đưa các tiêu chí về hình thức chăn nuôi, quy mô sản xuất và mức độ áp dụng kỹ thuật (chăn nuôi an toàn sinh học, VietGAHP, trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ cao như hệ thống IoT, tự động hóa,...) làm căn cứ xác định mức hỗ trợ, qua đó khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng hiện đại và bền vững

Không tiếp thu. Lý do: Mức hỗ trợ đề xuất tại dự thảo Nghị quyết được kế thừa tại Nghị định số 116/2025/NĐ-CP là hỗ trợ theo kilogam, không có căn cứ quy định hỗ trợ theo mục đích sản xuất và giá trị kinh kể của vật nuôi. Mặt khác, nguyên tắc hỗ trợ khắc phục dịch bệnh là hỗ trợ một phần thiệt hại do dịch bệnh động vật, không đền bù thiệt hại.

- Không tiếp thu. Lý do: Mức hỗ trợ đề xuất tại dự thảo Nghị quyết được kế thừa tại Nghị định số 116/2025/NĐ-CP là hỗ trợ theo kilogam, không có căn cứ quy định hỗ trợ theo hình thức chăn nuôi, quy mô sản xuất hoặc mức độ áp dụng kỹ thuật. Mặt khác, nguyên tắc hỗ trợ khắc phục dịch bệnh là hỗ trợ một phần thiệt hại do dịch bệnh động vật, không đền bù thiệt hại.

3.3

Tại điểm e khoản 2 Điều 5 của dự thảo Nghị quyết

Thanh tra tỉnh (văn bản số 737/TTr-NV3 ngày 30/3/2026)

Mức hỗ trợ đối với cơ sở sản xuất, đề nghị sửa đổi cụm từ "con/m2" viết lại như sau "con/m2"

Tiếp thu, chỉnh sửa trong dự thảo Nghị quyết.

3.4

Tại Điều 6 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Đakrông (văn bản số 406/UBND-TH ngày 6/4/2026)

Tại Điều 6. Mức hỗ trợ cho người tham gia khắc phục dịch bệnh động vật:

1. Mức hỗ trợ cho người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Mức dự thảo (400.000 đồng/ngày làm việc; 500.000 đồng/ngày nghỉ, lễ, Tết);

- Đề nghị điều chỉnh tăng: 500.000 đồng/người/ngày làm việc; 600.000 đồng/người/ngày nghỉ, ngày lễ, Tết.

2. Đối với mức hỗ trợ người hưởng lương từ ngân sách nhà nước

- Mức dự thảo (150.000 đồng/ngày làm việc; 300.000 đồng/ngày nghỉ, lễ, Tết) còn thấp so với yêu cầu thực tiễn nhiệm vụ tại địa bàn miền núi.

- Đề nghị điều chỉnh tăng: 200.000 đồng/người/ngày làm việc; 350.000 – 400.000 đồng/người/ngày nghỉ, ngày lễ, Tế

- Không tiếp thu. Lý do:

(i) Số địa phương có ý kiến đề nghị tăng mức hỗ trợ chỉ là 01/37 ý kiến.

(ii) Theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP, ngân sách địa phương phải “đảm bảo kinh phí quy định tại điểm a, điểm c khoản 3 Điều này và phần kinh phí tăng thêm so với quy định tại Điều 6, Điều 7 của Nghị định; ngân sách trung ương không hỗ trợ”. Trong khi đó, ngân sách địa phương còn hạn chế, do đó việc tăng mức hỗ trợ sẽ làm gia tăng áp lực cân đối nguồn lực và khó bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện.

(iii) Đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như vùng miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hiện nay đã có nhiều chính sách hỗ trợ riêng của Trung ương và địa phương nhằm bổ sung nguồn lực, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp và phòng, chống dịch bệnh. Do đó, việc điều chỉnh riêng tỷ lệ hỗ trợ trong Nghị quyết này là chưa phù hợp.

3.5

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND phường Quảng Trị (văn bản số 834/UBND-KTHTĐT ngày 30/3/2026)

+ Đề nghị xem xét điều chỉnh nội dung: “Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã 30%” thành “Trong 100% của ngân sách địa phương đối ứng: Ngân sách tỉnh 80%, ngân sách cấp xã 20%”. Lý do: Ngân sách phường xã phải chi toàn bộ công tác phòng chống dịch trong thời gian xảy ra dịch (vật tư, hóa chất, nguồn nhân lực, phương tiện, tuyên truyền,...) là rất lớn; để đảm bảo tính khả thi với nguồn lực và khả năng cân đối ngân sách của các phường xã khi thực hiện chính sách hỗ trợ nên đề nghị giảm mức đối ứng của ngân sách cấp xã. Đồng thời làm rõ tỷ lệ mức đối ứng của ngân sách địa phương ngoài phần hỗ trợ của ngân sách trung ương.

+  Đề nghị xem xét bổ sung để làm rõ nội dung: Phần ngân sách địa phương trong đó có ngân sách tỉnh có hỗ trợ tất cả các nội dung của Điều 5 và Điều 6 theo dự thảo Nghị quyết không. Lý do: Tại điểm a, khoản 2, Điều 8 của Nghị định 116/2025/NĐ-CP ngân sách Trung ương chỉ hỗ trợ thực hiện chính sách theo Điều 6 và khoản 1 Điều 7 của Nghị định tương ứng với nội dung hỗ trợ tại Điều 5 và khoản 1, Điều 6 theo dự thảo Nghị quyết.

- Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là hợp lý, vừa bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên sẽ thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

(iii) Về cơ chế hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP, theo đó đối với địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương, mức hỗ trợ được xác định theo tỷ lệ số bổ sung cân đối so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương.

(iv) Kinh phí hỗ trợ cho người tham gia khắc phục dịch bệnh động vật được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 7 và điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP, theo đó các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ huy động lực lượng sẽ sử dụng dự toán được cấp có thẩm quyền giao để chi hỗ trợ.

3.6

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Hiếu Giang (văn bản số 390/UBND-KT ngày 30/3/2026)

Đề nghị xem xét điều chỉnh nội dung: “Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã 30%” thành “Trong 100% của ngân sách địa phương đối ứng: Ngân sách tỉnh 80%, ngân sách cấp xã 20%”. Đồng thời làm rõ tỷ lệ mức đối ứng của ngân sách địa phương ngoài phần hỗ trợ của ngân sách trung ương.

Lý do: Ngân sách các xã phải chi toàn bộ công tác phòng chống dịch trong thời gian xảy ra dịch (vật tư, hóa chất, nguồn nhân lực, phương tiện, tuyên truyền,...) là rất lớn; để đảm bảo tính khả thi với nguồn lực và khả năng cân đối ngân sách của các xã khi thực hiện chính sách hỗ trợ nên đề nghị giảm mức đối ứng của ngân sách cấp xã.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.7

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Vĩnh Linh (văn bản số 624/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Tại khoản 2, Điều 7 của Dự thảo Nghị quyết quy định “Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã 30%”. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ngân sách cấp xã quy mô nhỏ, nguồn thu hạn chế, chủ yếu phục vụ các nhiệm vụ chi thường xuyên, phòng chống dịch bệnh, an sinh xã hội và các nhiệm vụ phát sinh trên địa bàn. Hằng năm, kinh phí mua vắc xin tiêm phòng 02 vụ trong năm, mua hóa chất tiêu độc khử trùng môi trường, hỗ trợ công tiêm phòng, phun tiêu độc, khử trùng...với kinh phí khá lớn, hầu như không có nguồn dự phòng đủ lớn để đối ứng 30% kinh phí hỗ trợ cho người chăn nuôi khi dịch bệnh xảy ra, đặc biệt đối với các dịch bệnh xảy ra đột xuất như bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, phạm vi ảnh hưởng lớn, nhu cầu kinh phí cao và vượt xa khả năng cân đối của cấp xã

Việc quy định ngân sách cấp xã chiếm 30% ngân sách địa phương hỗ trợ trong điều kiện nguồn lực xã hạn chế sẽ dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện, dẫn đến chậm trễ trong việc hỗ trợ người dân, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng, chống dịch và gây bức xúc trong nhân dân

Do đó, UBND xã đề nghị điều chỉnh nguồn kinh phí thực hiện theo hướng: ngân sách Trung ương và ngân sách cấp tỉnh đảm bảo toàn bộ kinh phí hỗ trợ (100%), không bố trí ngân sách cấp xã, hoặc có cơ chế hỗ trợ bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh về xã để đảm bảo tính khả thi, kịp thời và phù hợp với thực tiến năng lực ngân sách ở cơ sở.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp tỷ lệ 70% - 30% chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi, do người chăn nuôi vẫn được xem xét hỗ trợ đầy đủ theo mức quy định;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.8

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Vĩnh Thủy (văn bản số 685/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Tại khoản 2, Điều 7 của Dự thảo Nghị quyết quy định  ngân sách địa phương bao gồm: ngân sách tỉnh 70%, phần đối ứng 30% ngân sách cấp xã phải đảm bảo. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ngân sách cấp xã quy mô nhỏ, nguồn thu hạn chế, chủ yếu phục vụ các nhiệm vụ chi thường xuyên, phòng chống dịch bệnh, an sinh xã hội và các nhiệm vụ phát sinh trên địa bàn. Trong đó kinh phí mua vắc xin tiêm phòng 02 vụ trong năm, mua hóa chất tiêu độc khử trùng môi trường, hỗ trợ công tiêm phòng, phun tiêu độc,...với kinh phí khá lớn, hầu như không có nguồn dự phòng đủ lớn để đối ứng 30% kinh phí hỗ trợ cho người chăn nuôi khi dịch bệnh xảy ra, đặc biệt đối với các dịch bệnh xảy ra đột xuất như bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, phạm vi ảnh hưởng lớn, nhu cầu kinh phí cao và vượt xa khả năng cân đối của cấp xã.

Việc quy định ngân sách cấp xã đối ứng 30% trong điều kiện nguồn lực xã hạn chế sẽ dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện, dẫn đến chậm trễ trong việc hỗ trợ người dân, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng, chống dịch và gây bức xúc trong nhân dân.

Do đó, UBND xã đề nghị điều chỉnh cơ cấu nguồn kinh phí hỗ trợ theo hướng: ngân sách Trung ương và ngân sách cấp tỉnh đảm bảo toàn bộ kinh phí hỗ trợ (100%), không bố trí phần đối ứng từ ngân sách cấp xã.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp tỷ lệ 70% - 30% chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi, do người chăn nuôi vẫn được xem xét hỗ trợ đầy đủ theo mức quy định;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.9

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Vĩnh Hoàng (văn bản số 891/UBND-KT ngày 01/4/2026)

- Về cơ cấu nguồn kinh phí (khoản 2, Điều 7) dự thảo quy định ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã đối ứng 30%.
 Tuy nhiên, xã hiện nay có quy mô nhỏ, nguồn thu hạn chế, chủ yếu đáp ứng các nhiệm vụ chi thường xuyên, an sinh xã hội và phòng chống dịch bệnh trên địa bàn. Hằng năm, địa phương đã phải bố trí kinh phí đáng kể cho công tác tiêm phòng định kỳ, mua hóa chất, hỗ trợ lực lượng triển khai công vệ sinh, tiêu độc khử trùng,...nên khả năng cân đối nguồn để đối ứng thêm 30% khi xảy ra dịch bệnh là rất khó khăn.
Đặc biệt đối với các dịch bệnh nguy hiểm phát sinh đột xuất như bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, phạm vi ảnh hưởng rộng, nhu cầu kinh phí lớn, vượt quá khả năng ngân sách cấp xã. Việc quy định tỷ lệ đối ứng 30% có thể dẫn đến bị động trong tổ chức thực hiện, chậm trễ trong việc hỗ trợ người chăn nuôi, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng, chống dịch và ổn định xã hội.
Vì vậy, đề nghị điều chỉnh theo hướng: ngân sách Trung ương và ngân sách cấp tỉnh đảm bảo 100% kinh phí thực hiện chính sách, không quy định phần đối ứng từ ngân sách cấp xã.

- Về nội dung hỗ trợ (đề nghị bổ sung vào Nghị quyết)
Căn cứ khoản 7 Điều 12 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP của Chính phủ, UBND tỉnh có trách nhiệm bố trí đầy đủ nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh động vật, bao gồm cả chi phí thuê máy móc, phương tiện cơ giới phục vụ tiêu hủy, bắt giữ, giết mổ bắt buộc động vật, sản phẩm động vật. Tuy nhiên, nội dung này chưa được thể hiện trong Dự thảo Nghị quyết. Trên thực tế, khi xảy ra dịch bệnh, nhu cầu thuê máy móc, phương tiện (máy đào, xe vận chuyển,…) là rất cần thiết, phát sinh chi phí lớn nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể. Do đó, đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường, UBND tỉnh bổ sung quy định về nội dung, cơ cấu nguồn kinh phí về chi phí thuê máy móc, phương tiện cơ giới phục vụ công tác tiêu hủy, bắt giữ, giết mổ bắt buộc động vật, sản phẩm động vật do dịch bệnh, nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý và tính khả thi khi triển khai thực hiện.

Không tiếp thu. Lý do

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp này chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm thay đổi mức hỗ trợ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

- Không tiếp thu. Lý do: Theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 12 Luật số 146/2025/QH15, trong trường hợp nhu cầu về kinh phí, vật tư và nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh động vật vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương, Chủ tịch UBND cấp xã báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định hỗ trợ.

Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 7 Điều 12 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP, hằng năm UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh động vật và bố trí kinh phí để thực hiện các hoạt động như thông tin tuyên truyền, giám sát, xử lý dịch bệnh, mua vắc xin, hóa chất sát trùng và các nhiệm vụ phục vụ công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh.

Như vậy, nhu cầu kinh phí phát sinh (bao gồm chi phí thuê máy móc, phương tiện cơ giới phục vụ tiêu hủy, bắt giữ, giết mổ bắt buộc động vật, sản phẩm động vật) đã được xem xét, bố trí trong khuôn khổ kế hoạch và dự toán ngân sách hằng năm hoặc được xử lý theo cơ chế hỗ trợ khi vượt quá khả năng cân đối. Do đó, việc bổ sung nội dung này vào Nghị quyết là không cần thiết.

3.10

Tại khoản 2, Điều 7

UBND xã Cửa Tùng (văn bản số 890/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Tại khoản 2, Điều 7 của Dự thảo Nghị quyết quy định “Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã 30%”. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ngân sách cấp xã quy mô nhỏ, nguồn thu hạn chế, chủ yếu phục vụ các nhiệm vụ chi thường xuyên, phòng chống dịch bệnh, an sinh xã hội và các nhiệm vụ phát sinh trên địa bàn. Hàng năm, kinh phí mua vắc xin tiêm phòng 02 vụ trong năm, mua hoá chất khử trùng tiêu độc môi trường, hỗ trợ công tiêm phòng, phun tiêu độc, khử trùng,… với kinh phí khá lớn, hầu như không có nguồn dự phòng đủ lớn để đối ứng 30% kinh phí hỗ trợ cho người chăn nuôi khi dịch bệnh xảy ra, đặc biệt đối với các dịch bệnh xảy ra đột xuất như bệnh Dịch tả lợn Châu Phi, phạm vi ảnh hưởng lớn, nhu cầu kinh phí cao và vượt xa khả năng cân đối của cấp xã.

Việc quy định ngân sách cấp xã chiếm 30% ngân sách địa phương hỗ trợ trong điều kiện nguồn lực xã hạn chế sẽ dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện, dẫn đến chậm trễ trong việc hỗ trợ người dân, ảnh hưởng đến hiệu quả phòng, chống dịch và gây bức xúc trong Nhân dân.

Do đó, UBND xã đề nghị điều chỉnh nguồn kinh phí thực hiện theo hướng: ngân sách Trung ương và ngân sách cấp tỉnh đảm bảo toàn bộ kinh phí hỗ trợ (100%), không bố trí ngân sách cấp xã, hoặc có cơ chế hỗ trợ bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh về xã để đảm bảo tính khả thi, kịp thời và phù hợp với thực tiễn năng lực ngân sách ở cơ sở.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp này chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm thay đổi mức hỗ trợ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.11

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Cam Lộ (văn bản số 673/UBND-KT này 2/4/2026)

Đề nghị xem xét điều chỉnh nội dung: “Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã 30%” thành “ngân sách địa phương đối ứng: Ngân sách tỉnh 80%, ngân sách cấp xã 20%”. Lý do: Ngân sách xã, phường phải chi toàn bộ công tác phòng chống dịch trong thời gian xảy ra dịch (vật tư, hóa chất, nguồn nhân lực, phương tiện, tuyên truyền,...) là rất lớn; để đảm bảo tính khả thi với nguồn lực và khả năng cân đối ngân sách của các xã, phường khi thực hiện chính sách hỗ trợ nên đề nghị giảm mức đối ứng của ngân sách cấp xã, phường trên địa bàn tỉnh.

- Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp này chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm thay đổi mức hỗ trợ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.12

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Ái Tử (văn bản số 476/UBND-KT này 2/4/2026)

+ Đề nghị xem xét điều chỉnh nội dung: “Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 70%, ngân sách cấp xã 30%” thành “Trong 100% của ngân sách địa phương đối ứng: Ngân sách tỉnh 80%, ngân sách cấp xã 20%”.
Lý do: Ngân sách xã phải chi toàn bộ công tác phòng chống dịch trong thời gian xảy ra dịch (vật tư, hóa chất, nguồn nhân lực, phương tiện, tuyên truyền,...) là rất lớn; để đảm bảo tính khả thi với nguồn lực và khả năng cân đối ngân sách của xã khi thực hiện chính sách hỗ trợ nên đề nghị giảm mức đối ứng của ngân sách cấp xã.

+ Đề nghị xem xét bổ sung phần ngân sách địa phương trong đó có ngân sách tỉnh hỗ trợ tất cả các nội dung của Điều 5 và Điều 6 theo dự thảo Nghị quyết.

Lý do: Tại điểm a, khoản 2, Điều 8 của Nghị định 116/2025/NĐ-CP ngân sách Trung ương chỉ hỗ trợ thực hiện chính sách theo Điều 6 và khoản 1 Điều 7 của Nghị định tương ứng với nội dung hỗ trợ tại Điều 5 và khoản 1, Điều 6 theo dự thảo Nghị quyết.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

- Không tiếp thu. Lý do: Việc hỗ trợ từ ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 8 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP; theo đó, đối với các địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách Trung ương, mức hỗ trợ được xác định theo tỷ lệ số bổ sung cân đối so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương.

Đối với kinh phí hỗ trợ cho người tham gia khắc phục dịch bệnh động vật, thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 7 và điểm c khoản 3 Điều 9 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP; theo đó, các cơ quan, đơn vị được phân công, huy động lực lượng tham gia sẽ sử dụng dự toán được cấp có thẩm quyền giao để chi hỗ trợ cho người của cơ quan, đơn vị mình.

3.13

Tại khoản 2 Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND phường Đồng Thuận (văn bản số 976/UBND-KTHT&ĐT ngày 3/4/2026)

Đề nghị điều chỉnh: Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 90%, ngân sách cấp xã 10%.

Lý do: Nguồn ngân sách của cấp xã còn gặp khó khăn, nguồn thu còn hạn chế và nhu cầu chi cho các nhiệm vụ kinh tế xã hội lớn, chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ của cấp trên. Do đó nguồn đối ứng ngân sách cấp xã 30% sẽ rất khó khăn để thực hiện.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.14

Tại khoản 2, Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã La Lay (văn bản số 246/UBND-KT ngày 3/4/2026)

Xã La Lay là xã biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, dân tộc thiểu số chiếm hơn 95% tổng số dân toàn xã, kinh tế khó khăn, UBND xã đề nghị Sở Nông nghiệp Môi trường điều chỉnh lại là Ngân sách tỉnh hỗ 100%

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện.

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị;

(iii) Đối với các địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như xã La Lay, hiện nay đã có nhiều chính sách hỗ trợ riêng của Trung ương và địa phương nhằm bổ sung nguồn lực, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp và phòng, chống dịch bệnh. Do đó, việc điều chỉnh riêng tỷ lệ hỗ trợ ngân sách trong Nghị quyết này là chưa phù hợp và không bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng trên toàn tỉnh.

3.15

Tại khoản 2 Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Đakrông (văn bản số 406/UBND-TH ngày 6/4/2026)

Đề nghị điều chỉnh: Ngân sách tỉnh 90%, ngân sách cấp xã 10%.

Lý do đề xuất điều chỉnh: Xã Đakrông là xã biên giới, thuộc khu vực miền núi, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn; điều kiện kinh tế còn hạn chế, nguồn thu ngân sách trên địa bàn thấp. Trong khi đó, công tác phòng, chống dịch bệnh động vật đòi hỏi thời gian làm việc kéo dài, địa bàn di chuyển xa, điều kiện thời tiết phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Lực lượng tham gia phải trực tiếp xuống thôn để tổ chức tiêm phòng, tiêu độc, khử trùng, xử lý, tiêu hủy gia súc, gia cầm mắc bệnh trong điều kiện đi lại khó khăn.

Do đó, việc điều chỉnh tăng mức hỗ trợ và cơ cấu nguồn kinh phí là cần thiết nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn, tạo động lực cho lực lượng tham gia, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch bệnh động vật trên địa bàn.

- Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp này chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm thay đổi mức hỗ trợ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị;

(iii) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương được xây dựng áp dụng thống nhất cho các xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh nhằm bảo đảm tính công bằng, đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Việc quy định cơ chế riêng cho một số địa bàn cụ thể (như xã miền núi, biên giới) sẽ làm phát sinh sự không thống nhất trong hệ thống chính sách, gây khó khăn trong quá trình triển khai và cân đối ngân sách;

(iv) Đối với các địa bàn đặc thù có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, khi phát sinh nhu cầu kinh phí vượt khả năng cân đối, đã có cơ chế ngân sách cấp trên xem xét hỗ trợ theo quy định hiện hành, bảo đảm nguồn lực để tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

3.16

Tại khoản 2 Điều 7 của dự thảo Nghị quyết

UBND xã Nam Hải Lăng (văn bản số 251/UBND-KT ngày 7/4/2026)

Đề nghị sửa đổi thành: Ngân sách địa phương, trong đó ngân sách tỉnh 90%, ngân sách cấp xã 10%.

Lý do: Để thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh động vật, ngân sách xã đã chi các nội dung: hỗ trợ vắc xin, triển khai tiêm phòng, mua hóa chất khử trùng, phương tiện phòng chống dịch, công dập dịch... Do đó, đề nghị giảm phần ngân sách xã (đối ứng) trong công tác hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật để đảm bảo tính khả thi khi triển khai thực hiện Nghị quyết.

Không tiếp thu. Lý do:

(i) Tỷ lệ phân cấp ngân sách địa phương trong dự thảo Nghị quyết đã được Sở Tài chính thống nhất tại Văn bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026. Năm 2026, tỉnh thuộc nhóm địa phương có tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách Trung ương trong công tác phòng, chống dịch bệnh là 60%, ngân sách địa phương là 40%. Do đó, việc quy định tỷ lệ hỗ trợ 70% từ ngân sách cấp tỉnh và 30% từ ngân sách cấp xã là cần thiết và hợp lý, vừa bảo đảm vai trò của ngân sách cấp tỉnh, vừa phát huy trách nhiệm chia sẻ của chính quyền cấp xã, tránh tình trạng phụ thuộc vào ngân sách cấp trên; đồng thời là cơ sở để HĐND cấp xã quyết định nhiệm vụ chi, chủ động trong tổ chức thực hiện. Việc phân cấp này chỉ là cơ chế phân bổ nguồn kinh phí giữa các cấp ngân sách, không làm thay đổi mức hỗ trợ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của người chăn nuôi;

(ii) Trường hợp ngân sách cấp dưới vượt quá khả năng cân đối, ngân sách cấp trên thực hiện bổ sung hỗ trợ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 11/2025/NQ-HĐND ngày 11/12/2025 của HĐND tỉnh Quảng Trị.

3.17

Tại Điều 8 dự thảo Nghị quyết

Sở Tư pháp
 (văn bản số 1005/STP-QLVB ngày 30/3/2026)

- Đề nghị bỏ khoản 1 Điều 8 dự thảo vì nội dung này đã được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP

- Đối với quy định hiệu lực trở về trước tại khoản 2 Điều 8 dự thảo: Khoản 1 Điều 55 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 quy định: “1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội thì văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mới được quy định hiệu lực trở về trước.”. Theo quy định trên thì chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội thì Nghị quyết QPPL của Hội đồng nhân dân mới được quy định hiệu lực trở về trước. Quy định hiệu lực trở về trước tại khoản 2 Điều 8 dự thảo Nghị quyết không thuộc trường hợp được quy định hiệu lực trở về trước tại khoản 1 Điều 55 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15, do đó đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường xem xét bỏ quy định tại khoản 2 Điều 8 dự thảo.

- Tiếp thu, chỉnh sửa trong Dự thảo Nghị quyết.

- Đề nghị giữ nguyên như dự thảo Nghị quyết.

Lý do: Thực tế trong năm 2025, các loại dịch bệnh nguy hiểm như DTLCP, LMLM, VDNC đã xảy ra trên địa bàn, gây thiệt hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi; tổng kinh phí dự kiến hỗ trợ khắc phục hậu quả dịch bệnh ước trên 269 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến ngày 24/3/2026, ngân sách nhà nước mới bố trí, thực hiện hỗ trợ được 50,7 tỷ đồng; phần kinh phí còn lại chưa được thực hiện, mặc dù hồ sơ đề nghị hỗ trợ đã được UBND cấp xã tiếp nhận đầy đủ.

Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách còn hạn chế, việc quy định như tại khoản 2 Điều 8 của dự thảo Nghị quyết là cần thiết nhằm bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

3.18

Nội dung đề nghị khác

Sở Tư pháp
 (văn bản số 1005/STP-QLVB ngày 30/3/2026)

Để đảm bảo ổn định, lâu dài của chính sách được quy định trong nghị quyết, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu để tham mưu quy định nội dung tại điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP (nếu được) hoặc nghiên cứu để quy định một nội dung trong nghị quyết này trường hợp có động vật, sản phẩm động vật phát sinh cần hỗ trợ nhưng chưa được quy định trong nghị quyết này thì xử lý như thế nào để không tạo khoảng trống pháp lý.

- Không tiếp thu.

Lý do: Theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 116/2025/NĐ-CP, ngân sách địa phương có trách nhiệm “đảm bảo kinh phí quy định tại điểm a, điểm c khoản 3 Điều này và phần kinh phí tăng thêm so với quy định tại Điều 6, Điều 7 của Nghị định; ngân sách trung ương không hỗ trợ”. Trong khi đó, ngân sách địa phương còn hạn chế, việc mở rộng thêm đối tượng hỗ trợ sẽ làm gia tăng áp lực cân đối nguồn lực.

Bên cạnh đó, các đối tượng được hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 116/2025/NĐ-CP đã cơ bản đầy đủ, phù hợp với động vật nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh;  đồng thời phù hợp với quy định tại Danh mục bệnh động vật trên cạn phải công bố dịch và Danh mục bệnh động vật thủy sản phải công bố dịch theo quy định hiện hành.

3.19

Sở Tài chính (văn
 bản số 2182/STC-NS ngày 27/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.20

Sở Nội vụ (văn
 bản số 1367/SNV-VP ngày 01/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.21

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (văn bản số 1154/SVNTTDL-VP ngày 24/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.22

Sở Công thương (văn
 bản số 802/SCT-KTATMT ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.23

Ban Quản lý rừng
phòng hộ Minh Hóa (văn bản số 109/BQL ngày 24/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.24

Ban Quản lý rừng
phòng hộ Quảng Trạch (văn bản số 114/BQL-THKTBVR ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.25

Cục Thuế tỉnh Quảng
 Trị (văn bản số 882/QTR-NVDTPC ngày 27/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.26

Hội Cựu chiến binh
tỉnh (văn bản số 89/CCB-BCT ngày 27/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.27

Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh (văn bản số 79/BTV-KTGĐXH ngày 31/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.28

Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư (văn bản số 328/CCTSKN-NTTS ngày 01/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.29

Sở Giáo dục và Đào tạo (văn bản số 1337/SGDĐT-KHTC ngày 02/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.30

Sở Y tế (văn bản số 1716/SYT-KHTC ngày 03/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.31

Chi cục Trồng trọt
và Bảo vệ thực vật (văn bản số 343/TTBVTV-T.Trọt ngày 04/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.32

Trường Cao đẳng kỹ thuật (văn bản số 55/CĐKT ngày 3/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.33

Ban Quản lý khu kinh tế (văn bản số 942/KKT-DNMT ngày 8/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.34

UBND xã Bắc Trạch (văn bản số 365/UBND ngày 27/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.35

UBND xã Đồng Lê
 (văn bản số 480/UBND ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.36

UBND xã Hướng Phùng (văn bản số 298/UBND-KT ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.37

UBND xã Lao Bảo (văn bản số 1033/UBND-KT ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.38

UBND xã Nam Ba Đồn (văn bản số 309/UBND-KT ngày 25/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.39

UBND xã Phong Nha (văn bản số 473/UBND-KT ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.40

UBND xã Phú Trạch (văn bản số 231/UBND-KT ngày 25/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.41

UBND xã Triệu Cơ (văn bản số 666/UBND-KT ngày 26/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.42

UBND phường Đông Hà (văn bản số 1356/UBND-PKTHT&ĐT ngày 27/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.43

UBND phường Đồng Sơn (văn bản số 664/UBND-PKTHT&ĐT ngày 30/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.44

UBND phường Nam Đông Hà (văn bản số 1233/UBND-PKTHTĐT ngày 25/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.45

UBND xã Cửa Việt (văn bản số 909/UBND-KT ngày 30/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.46

UBND xã Gio Linh (văn bản số 1044/UBND-NN ngày 17/3/2026) và số 1162/UBND-KT ngày 2/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.47

UBND xã Kim Điền (văn bản số 168/UBND-KT ngày 27/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.48

UBND xã Kim Ngân (văn bản số 453/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.49

UBND xã Lệ Ninh (văn bản số 855/UBND-KT ngày 30/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.50

UBND xã Mỹ Thủy (văn bản số 311/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.51

UBND xã Triệu Bình (văn bản số 665/UBND-KT ngày 30/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.52

UBND xã Tuyên Lâm (văn bản số 194/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.53

UBND xã Lìa (văn bản số 395/UBND-KT ngày 01/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.54

UBND xã Tân Thành (văn bản số 151/UBND-KT ngày 01/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.55

UBND xã Ba Lòng (văn bản số 570/UBND-KT ngày 31/3/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.56

UBND xã Cam Hồng (văn bản số 850/UBND-KT ngày 6/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.57

UBND xã Trường Phú (văn bản số 309/UBND-KT ngày 6/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

3.58

UBND xã Quảng Ninh (văn bản số 427/UBND-KT ngàyTa 6/4/2026)

Thống nhất Dự thảo

 

 

 

 

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 12

  • Hôm nay 855

  • Tổng 10.326.105