Những tiến bộ trong ngành tôm Việt Nam và đổi mới công nghệ nuôi tôm để phát triển ở Quảng Bình

16:9, Thứ Sáu, 26-12-2025

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Ngành nuôi tôm trên thế giới đang đứng trước những thách thức do dịch bệnh và ô nhiễm môi trương do quy mô nuôi thâm canh ngày càng tăng; trong đó thức ăn dư thừa và các vi sinh vật có hại đóng vai trò chính gây nên ô nhiểm môi trường và dịch bệnh trên tôm nuôi. Lượng thức ăn công nghiệp được sử dụng cho nuôi tôm ngày càng lớn đã kéo theo sự gia tăng chất thải ra môi trường nước nuôi thủy sản; theo Fung-Smith,1998 Thì thức ăn trong nuôi tôm chiếm hơn 50% tổng chi phí sản xuất, tuy nhiên chỉ có khoảng 25-30% chất dinh dưỡng của thức ăn được chuyển đổi thành các sản phẩm tôm, và khoảng 70-75% lượng dinh dưỡng còn lại sẽ được thải ra môi trường nuôi. Sự tích lũy lượng dinh dưỡng thừa từ thức ăn, chất thải của tôm nuôi là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và dẫn tới bùng phát dịch bệnh. Hợp chất chứa nitơ vô cơ dưới dạng Ammonia hay Nitrite do phân hủy chất thải trong ao nuôi nếu không được xử lý tốt sẽ gây hại trực tiếp đến động vật thủy sản nuôi và là cơ hội cho các tác nhân gây bệnh như vi rút, vi khuẩn phát triển (Romano, 2017). Do vậy, trong hệ thống nuôi tôm thâm canh việc quản lý Ammonia là ưu tiên hàng đầu nhằm cải tiến công nghệ nuôi tôm để giảm ô nhiễm môi trường, và sự phát sinh dịch bệnh. Trong nhiều năm qua trên thế giới và trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu cải tiến công nghệ trong nuôi tôm cũng đã tập trung nghiên cứu để giảm tối đa lượng Ammonia, chất tải hưu cơ trong môi trường ao nuôi. Tại hội thảo “Những tiến bộ trong ngành tôm Việt Nam và đổi mới công nghệ nuôi tôm để phát triễn tại Quảng Bình ngày 29/8/2018 vùa qua các nhà khoa học đầu ngành tôm Việt Nam đã ghi nhận 6 tiến bộ công nghệ nuôi tôm hiện nay trên thế giới là:

 1. Công nghệ nuôi tôm siêu thâm canh trong hệ thống nước chảy (raceway)

Là giải pháp quản lý Ammonia trong ao nuôi thủy sản là ứng dụng hệ thống nuôi thủy sản tuần hoàn (Recirculating Aquaculture System – RAS). Công nghệ nuôi này yêu cầu trình độ quản lý kỹ thuật cao, đặc biệt là phải đảm bảo hàm lượng oxy hòa tan (DO) của hệ thống phải ở mức tốt nhất. Do không thay nước (chỉ bổ sung khoảng 1% tổng lượng nước mỗi ngày để bù đắp cho lượng nước bay hơi), hệ thống raceway chứa dày đặc các hạt Biofloc chứa vi khuẩn và vi tảo trong môi trường hạn chế thay nước. Đây cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng làm thức ăn cho tôm.

Công nghệ nuôi này cần đầu tư ban đầu lớn, cần trình độ quản lý, kỹ thuật cao để có thể nuôi đạt kết quả tốt nhất.

2. Công nghệ nuôi sử dụng hệ thống tuần hoàn nước (RAS)

Công nghệ RAS loại bỏ các hợp chất có chứa Nitơ vô cơ từ nước nuôi thủy sản bằng cách kết hợp giữa lọc sinh học và cơ học. Nhờ vậy, chất lượng nước được cải thiện và giảm thay nước. Tuy nhiên, công nghệ này không chú trọng đến tái sử dụng các chất dinh dưỡng từ chất thải của động vật thủy sản nên các chất dinh dưỡng không được sử dụng triệt để. Vận hành hệ thống lọc cơ và sinh học đòi hỏi hệ thống thiết bị phức tạp, chi phí vận hành cao và kỹ năng của công nhân lành nghề nên rất khó áp dụng trên quy mô ao nuôi lớn. Ngoài ra, để giảm thiểu tác động của các chất hữu cơ ô nhiễm, việc phát triển vi tảo trong ao được xem là biện pháp để duy trì chất lượng nước. Tuy nhiên, việc quản lý tảo trong ao nuôi là không dễ dàng và có thể làm pH và Oxy hòa tan trong ao biến động, gây stress cho động vật nuôi (Romano, 2017).

3. Công nghệ Biofloc

Là công nghệ nuôi thâm canh sử dụng chế phẩm sinh học Bio để gây màu nước phát triễn các vi sinh vật có lợi và hạn chế các vi sinh vật có hại và phân giãi các chất hữu cơ làm sạch đáy và môi trường ao nuôi; Thông qua quá trình xáo trộn nước và sục khí để duy trì sự hiện diện của các hạt floc, chất lượng nước được đảm bảo. Công nghệ Biofloc là giải pháp giải quyết 2 vấn đề: (1) Loại bỏ các chất dinh dưỡng chuyển hóa vào sinh khối vi khuẩn dị dưỡng xử lý nước ao nuôi, (2) Sử dụng Biofloc làm thức ăn bổ sung tại chỗ cho đối tượng nuôi. Công nghệ này đã giải quyết được vấn đề chất thải hữu cơ trong ao nuôi qua việc tạo điều kiện tối ưu để vi khuẩn dị dưỡng phát triển trong thủy vực nuôi thủy sản. Vi sinh vật dị dưỡng sử dụng các bon hữu cơ (tinh bột, rỉ đường, phế phụ phẩm từ quá trình lên men sản xuất nhiên liệu sinh học, chất thải của động vật thủy sản...) làm thức ăn kéo theo việc hấp thụ nitơ vô cơ hòa tan (chủ yếu là Ammonia, thành phần chính của chất thải thủy sản nuôi) để tạo protein trong sinh khối.

4. Công nghệ Semi-Biofloc

Công nghệ Semi-Biofloc được cải tiến từ công nghệ Biofloc nhưng việc quản lý môi trường ao nuôi được thực hiện bằng cách điều chỉnh tỉ lệ Các bon/Ni tơ sao cho đạt>1,5, hệ thống ao nuôi chặt chẻ; kết hợp giữa sinh vật tự dưỡng (chủ yếu Chlorella) và dị dưỡng (Chủ yếu là Bacilus) trong đó: SV tự dưỡng chiếm 30-40%, và SV dị dưỡng 60-70%. Sinh khối này được kiểm soát bằng bón định kỳ chế phẩm sinh học (Problotic), CaCO3, MgCO3, và chất hữu cơ. Tỉ lệ điều chỉnh đạt N/P= 25/1, hệ sinh vật dị dưỡng/ SV tự dưỡng đúng theo tỉ lệ quy định trước khi thả giống 20 ngày. Ngoài ra phải quản lý tốt các yếu tố môi trường ao nuôi đạt chuẩn như: PH, độ trong, màu nước, thành phần tảo và vi khuẩn; và phải sục khí hiệu quả đảm bảo ô xi đạt >4 và định kỳ xi phông đáy.

5. Công nghệ BioSipec

Là công nghê nuôi thâm canh nhiều giai đoạn; Nuôi 2-3 giai đoạn ương bằng bể xi măng và ao đất lót bạt cả bờ và đáy tất cả được đặt trong nhà kính và một giai đoan nuôi thương phẩm trong ao ngoài trời. Sử dụng thức ăn công nghiệp và chế phẩm sinh học để bổ sung vào thức ăn và quản lý môi trường ao nuôi, ngoài ra còn áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật như:

- Có hệ thống xử lý nước tăng an toàn sinh học và ngăn ngừa dịch bệnh;

- Có hệ thống sục khí đặc biệt để giảm chi phí năng lượng tối ưu hóa hàm lượng O2 cho ao nuôi;

- Có hệ thống cho ăn tự động với cảm biến âm thanh giúp cung cấp thức ăn theo nhu cầu của tôm, và làm giảm hệ số tiêu tốn thức ăn;

- Sử dụng tôm giống sạch bệnh (SPF)

- Sử dụng thức ăn chất lượng đảm bảo dinh dưỡng cho tôm nuôi; như bổ sung dịch cá khô để trộn vào thức ăn, sử dụng chế phẩm sinh học (BioWish) trộn vào thức ăn cho tôm...vv.

6. Công nghệ Copefloc trong nuôi tôm

Công nghệ này còn được xem như là một dạng của công nghệ Aquamimicry khi mô phỏng hệ sinh thái cửa sông ven biển; Bản chất của công nghệ Copefloc là phát triển các hệ sinh vật thủy sinh giàu dinh dưỡng, đặc biệt là giáp xác chân chèo, các động vật thân mềm sống đáy (giun nhiều tơ,…) và các hạt Biofloc (Romano, 2017) làm thức ăn trực tiếp cho tôm nuôi và duy trì cân bằng dinh dưỡng trong ao nuôi tôm. Khác với công nghệ Biofloc công nghệ nuôi này là tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên (động vật thủy sinh) có trong ao nhờ bổ sung các loại chất dinh dưỡng có nguồn gốc thực vật như cám gạo hay đậu nành lên men với chế phẩm sinh học giúp giảm giá thành sản xuất (giảm chi phí thức ăn công nghiệp). Vì thế, công nghệ này có mức đầu tư thấp, có khả năng xử lý được lượng dinh dưỡng thừa thải ra môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và an toàn sinh học cho thủy sản nuôi.

Nguyên lý cơ bản của công nghệ Copefloc là quản lý và  thúc đẩy sự phát triển của động vật thủy sinh (chủ yếu là Copepoda) làm thức ăn cho tôm nuôi và thúc đẩy các vi sinh vật có lợi để tạo các Biofloc nhằm duy trì chất lượng nước. Quá trình này được thực hiện qua việc bổ sung các nguồn các bon, probiotics vào ao nuôi. Công nghệ nuôi tôm theo hướng thân thiện môi trường, đầu tư thấp,bền vững, an toàn sinh học nhờ những khả năng vượt trội sau đây: (1) Sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp và phụ phẩm nông nghiệp để phát triển thức ăn (động vật thủy sinh ) cho tôm nuôi trong ao nên giảm được chi phí thức ăn công nghiệp, (2) Loại bỏ Ammonia tự do trong nước ao nuôi bằng cách chuyển hóa thành protein trong sinh khối vi khuẩn dị dưỡng trong các Biofloc, (3) Động vật thủy sản nuôi sử dụng Biofloc làm thức ăn, do vậy làm tăng tỷ lệ chuyển hóa protein trong thức ăn, (4) Nâng cao mức độ an toàn sinh học, giảm rủi ro lây nhiễm bệnh do ít phải thay nước.

Tại Việt Nam, đến nay đã du nhập và cải tiến áp dụng 4 công nghệ nuôi tôm tiên tiến và đã mang lại hiệu quả kinh tế, đó là:

1. Công nghệ nuôi tôm nhiều giai đoạn

Giai đoạn 1, tôm sẽ được ương trong nhà kính/nhà bạt, nhà có mái che; thời gian ương trung bình từ 25 - 30 ngày, khi đó tôm 1 - 2 gram/con;

Giai đoạn 2, tôm được chuyển qua ao nuôi trong thời gian 45 - 60 ngày để đạt kích thước thương phẩm. Mô hình hoạt động dựa trên 3 yếu tố quan trọng để có được thành công: đảm bảo dinh dưỡng cho tôm khi còn nhỏ; đảm bảo sức khỏe cho tôm; đảm bảo đúng kỹ thuật. Công nghệ nuôi tôm theo hai hay 3 giai đoạn đã góp phần tăng năng suất nuôi tôm thẻ chân trắng từ 10-12 tấn/ha/vụ (theo công nghệ nuôi truyền thống) lên 30-50 tấn/ha/vụ. Hiện nay công nghệ này đang được áp dụng ở nhiều tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và diện tích nuôi tôm công nghệ cao này đang dần được tăng lên.

2. Công nghệ nuôi tôm ít thay nước

Quy trình nuôi tôm thâm canh ít thay nước thì 1-2 tháng đầu tiên không thay nước, chỉ cần bổ sung lượng nước cho ao nuôi do bốc hơi và thẩm thấu. Các tháng tiếp theo chỉ cần thay nước khi thật sự cần thiết để quản lý chất lượng nước giúp cho tôm nuôi sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Trong quá trình nuôi tôm sử dụng các Chế phẩm sinh học để quản lý chất lượng nước, người nuôi có thể dùng kết hợp chế phẩm sinh học xử lý đáy và xử lý môi trường nước ao nuôi.

3. Công nghệ nuôi tôm siêu thâm canh trong nhà kính

Mô hình nuôi tôm trong nhà kính đang được thực hiện bởi một số doanh nghiệp như công ty Việt Úc, công ty CP. Mô hình nuôi này có thể kiểm soát được vấn đề dịch bệnh, quản lý chất lượng nước, ô nhiễm môi trường và ít rủi ro hơn các mô hình nuôi khác. Đây là mô hình đầu tư hiện đại và khép kín nên có thể thả nuôi thâm canh với mật độ cao. Trung bình mật độ thả nuôi từ 200 - 300 con/m2, tôm sau 100 - 105 ngày thả nuôi là có thể thu hoạch, tôm đạt kích cỡ từ 30 - 33 con/kg, năng suất đạt khoảng 60-90 tấn/ha, thậm chí đạt 300 tấn/ha. Tôm nuôi trong nhà kính có nhiều ưu điểm tuy nhiên đầu tư và  chi phí cho sản xuất quá cao.

4.Công nghệ biofloc,hoạc semi-biofloc

Công nghệ Biofloc và Công nghệ nuôi semi-biofloc có bản chất là tạo và duy trì môi trường cân bằng theo tỷ lệ 30 - 40% sinh vật tự dưỡng, chủ yếu là tảo và 60 - 70% sinh vật dị dưỡng là các vi khuẩn có lợi, chủ yếu là các chủng Bassilus. Hệ thống được duy trì thông qua việc bón sản phẩm men vi sinh, mật rỉ đường, khoáng chất, chất hữu cơ. Nuôi theo công nghệ Semi-biofloc, mật độ tảo luôn ổn định, giúp các chỉ tiêu môi trường như pH, độ kiềm, ôxy hòa tan luôn ổn định. So với những cách nuôi trước đây, mô hình nuôi tôm bằng công nghệ Biofloc và Semifloc có nhiều ưu điểm vượt trội, phù hợp điều kiện kỹ thuật, cơ sở hạ tầng hiện nay.

Ở Quảng Bình, trong những năm gần đây, đã áp dụng các quy trình nuôi cải tiến nói trên vào nuôi tôm thâm canh trên cát dưới hình thức nuôi tôm theo công nghệ sinh học, nuôi tôn theo công nghệ Biofloc...vv, tuy nhiên vẫn còn nhiều bất ổn, hiệu quả chưa cao, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh còn xẩy ra liên tiếp, Nguyên nhân, do quy hoạch và đầu tư hệ thống ao hồ, và áp dụng quy trình nuôi rất thiếu đồng bộ thiếu đồng bộ, không phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu, và đất đai mặt nước ở Quảng Bình.

Trên cơ sở tổng hợp những tiến bộ về công nghệ nuôi tôm trên thế giới và trong nước, và xu thế phát triển nghề nuôi tôm theo hướng hiệu quả, bền vững, thân thiện với môi trường của thế giới; kết hợp với điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt ở Quảng Bình và khả năng đầu tư của nhân dân, Hội thảo đề xuất giải pháp tổng hợp công nghệ nuôi tôm cho Quảng Bình là: Nuôi tôm theo công nghệ sinh học, nhiều giai đoạn, ít thay nước kết hợp các giải pháp kỹ thuật thích hợp cho từng vùng nuôi, đối tượng nuôi, và mùa vụ nuôi; cụ thể là:

Thực chất của quy trình nuôi tổng hợp này là nuôi thâm canh theo công nghệ Biofloc, không dùng hóa chất kháng sinh trong quá trình nuôi tôm; dùng chế phẩm sinh học và các sản phẩm có nguồn góc từ thực vật (như: Cám gạo, Bột đậu nành, Mật rĩ đường…lên men) để gây màu nước, ổn định môi trường nước ao nuôi; Trước khi thả giống, dùng các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật đã lên men để gây màu nước (nuôi tảo khuê và tảo có lợi làm thức ăn tự nhiên cho tôm), dùng chế phẩm sinh học để ổn định các sinh vật có lợi và ổn định môi trường nước cho ao nuôi. Trong quá trình nuôi dùng chế phẩm sinh học bón trực tiếp vào ao nuôi để tăng lượng sinh vật có lợi, tiêu diệt sinh vật có hại, và tăng khả năng phân hủy các chất hữu cơ (do thức ăn thừa, xác vỏ tôm, phân tôm…), ổn định PH, độ kiềm, khí độc…vv, từ đó mà ổn định môi trường nước ao nuôi. Dùng chế phẩm sinh học để trộn vào thức ăn để tăng cường khả năng tiêu hóa, tăng khả năng đề kháng, và ổn định đường ruột cho tôm nuôi.

Đi đôi với công nghệ này, chúng ta phải tiến hành các giải pháp kỹ thuật đồng bộ như: Nuôi nhiều giai đoạn(Giai đoạn ương nuôi trong bể xi măng hoạc ao nuôi có mái che, nuôi từ giống P12 lên giống cở to 4-6cm, thời gian ương từ 25=30 ngày; và Giai đoạn nuôi thương phẩm trong các ao nuôi ngoài trời, thời gian nuôi 60-65 ngày);

Nuôi theo công nghệ ít thay nước, đầu tư đủ hệ thống ao chứa lắng, ao nuôi và ao xử lý nước thải; chủ động trong việc thay nước, chỉ thay nước trong trường hợp cần thiết;

Đầu tư đúng mức hệ thống quạt, sục khí đầy đủ theo yêu cầu của tôm nuôi (Theo hướng dẫn của quy trình nuôi tôm thâm canh)

Về quy hoạch và đầu tư xây dựng ao nuôi, vùng nuôi:

Đối với những vùng nuôi tôm trên cát có quy mô lớn (trên 2ha), nên đầu tư xây dựng hệ thống ao đồng bộ, gồm: ao lắng lọc sẵn sàng, ao nuôi, và ao xử lý phù hợp; đảm bảo ao ương và ao nuôi chiếm khoảng 35-40%, ao lắng lọc sẵn sàng và ao xử lý chiếm 60-65%. Ao ương hoặc bể ương tốt nhất là đặt trong nhà có mái che nếu không có thể làm những bể ương nhỏ dã chiến bằng các vật liệu bạt, khung lồng rẻ tiền ít kinh phí và có mái che, đối với ao nuôi thương phẩm có thể tạo mái che bằng lưới Lan.

Đối với những vùng nuôi có diện tích nhỏ (nhỏ hơn 2ha), không có điều kiện để xây dựng đầy đủ hệ thống ao thì nên đầu tư ao chứa lắng, hoặc bể ương và ao nuôi thương phẩm; Nơi có diện tích nhỏ hơn 1 ha thì nên đầu tư 1 ao hoặc bể ương và 02 ao nuôi thương phẩm nhưng chỉ nuôi 01 ao còn 01 ao dùng để cấp nước cho ao nuôi còn lại, khi cần thiết dùng để san tôm giảm mật độ cho ao nuôi (1) hoặc để thay ao khi ao nuôi (1) đáy ao có vấn đề khó xử lý, (ao nuôi bố trí theo kiểu này gọi là kiểu “Mẹ bồng con”)

Đối với những vùng nuôi trong ao đất. Ở Quảng Bình đa phần các hộ nuôi ở vùng ao đất thường có điện tích nhỏ (<1ha), ao hồ đầu tư thiếu đồng bộ (không có hố thu gom chất thải, việc cấp và thoát nước khó khăn) vì vậy việc nuôi tôm Sú hoặc tôm Thẻ chân trắng ở vùng này muốn áp dụng quy trình nuôi thâm canh bền vững, ta phải áp dụng quy trình nuôi sinh học theo kiểu Copefloc cải tiến; muốn vậy ta phải tiến hành xây dựng lại hệ thống ao nuôi theo kiểu “Mẹ bồng Con”, một ao nuôi được chia thành hai ao nuôi: Ao nuôi (1) dùng để nuôi tôm, và ao nuôi (2) dùng để nuôi cá Rô Phi để cấp nước cho ao nuôi(1)-ao nuôi tôm, làm như vậy tôm nuôi sẽ ít bị dịch bệnh. Trường hợp hộ nuôi có ao nuôi nhỏ không chia làm đôi được thì ta áp dụng giải pháp  đặt các lồng nuôi cá Rô Phi trong ao nuôi tôm ta để tự điều chỉnh sinh khối vi sinh có lợi cho tôm nuôi và ổn định môi trường nước ao nuôi. Dùng phụ phẩm nông nghiệp như: cám gạo, bột đậu nành, mật rĩ đường lên men để gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên cho tôm nuôi, đồng thời dùng chế phẩm sinh học để giữ ổn định môi trường nước và bổ sung chế phẩm sinh học vào thức ăn cho tôm ăn để ổn định đường ruột và giúp cho tôm tiêu hóa và tăng sức đề kháng tốt.

Đây là mô hình có tính khả thi cao, Hội thủy sản Quảng Bình kính đề nghị: Sở Khoa học Công nghệ và sở Nông nghiệp & PTNT Quảng Bình có giãi pháp phổ biến công nghệ này đến các huyện, Thị xã, Thành phố và người nuôi tôm trong tỉnh để triễn khai áp dụng; đồng thời bố trí kinh phí sự nghiệp khoa học kỹ thuật và kinh phí khuyến nông-khuyến ngư hàng năm để xây dựng các mô hình cụ thể cho từng vùng nuôi, đối tượng nuôi để có kết luận và nhân rộng./.

Nguồn trang TT Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Bình

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 2889

  • Tổng 10.406.592