Phương án ứng phó hạn hán vụ sản xuất Đông Xuân 2015-2016 và năm 2016

13:54, Thứ Hai, 29-12-2025

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Theo tổng hợp lượng mưa của Trung tâm khí tượng thủy văn Quảng Bình, tổng lượng mưa trên địa bàn tỉnh đạt 87% so với trung bình nhiều năm, một số trạm đạt thấp như: Tân Mỹ, Ba Đồn, Mai Hóa…

 1. Tình hình nguồn nước các hồ chứa, sông suối
1.1 Nguồn nước hồ chứa:
- Tổng lượng nước hồ chứa của Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi mới đạt 81,6% so với dung tích thiết kế. Lượng nước nhiều hồ chứa thấp hơn so với bình quân nhiều năm, nhất là ở các hồ Trung Thuần 53%, Vực Nồi 56%, Đồng Ran 65%...
- Các huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh: Các hồ chứa hầu hết đạt 60-80% dung tích so với cùng kỳ, một số hồ rất thấp như hồ Long Đại, cụm hồ xã Trường Xuân chỉ mới đạt 40% dung tích cùng kỳ.
- Thành phố Đồng Hới: Các hồ chứa đều đạt dung tích thiết kế. Chỉ một số hồ chứa do đang sửa chữa nên chưa tích nước như hồ Bàu Luồng, Bàu Vèng.
- Thị xã Ba Đồn: Một số hồ chứa có dung tích trữ so với cùng kỳ rất thấp như hồ Hóc Thọ 15%; hồ Khe Nậy 20%, Khe Zét. Các hồ còn lại chưa đảm bảo nguồn nước cho vụ sản xuất Đông xuân.
- Huyện Bố Trạch: các hồ chứa hầu hết đạt từ 50-70% dung tích so với cùng kỳ. Một số hồ chứa đạt dung tích thấp như hồ Mù U, hồ Cơn Ruộng xã Quảng Thạch 30%; hồ Nước Mặn, hồ Khe Lùng xã Xuân Trạch 30%.
- Huyện Quảng Trạch: Một số xã đảm bảo nguồn nước như xã Quảng Hưng, Quảng Xuân, Quảng Châu… Còn lại các hồ chứa hầu hết đạt từ 40-60% dung tích so với cùng kỳ.
- Huyện Tuyên Hóa và Minh Hóa: Các hồ chứa hầu hết đạt từ 50-80% dung tích so với cùng kỳ cơ bản đảm bảo nguồn nước sản xuất cho vụ Đông Xuân.
1.2 Tình hình nguồn nước sông suối
Đặc điểm các sông ở tỉnh ta là mùa lũ nước tập trung nhanh gây lũ lớn; mùa khô nước sông xuống thấp, các vùng núi cao thường xảy ra khô hạn, vùng đồng bằng mặn xâm nhập sâu dọc theo các sông. Vì vậy giải pháp lấy nước để phục vụ sản xuất từ các sông chính ở hạ nguồn gần như không có, chỉ có số ít ở thượng nguồn các xã Châu Hóa, Phong Hóa
2. Nhận định và đánh giá tình hình tổng thể đối với hạn hán
Theo nhận định của Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương, Đài khí tượng Thủy văn Quảng Bình, tổng lượng mưa toàn vụ Đông xuân 2015-2016 tại Quảng Bình chỉ đạt 50-60% so với trung bình nhiều năm, nhiệt độ trung bình bằng và cao hơn trung bình nhiều năm nên nhiều khả năng sẽ gây hạn hán trên diện rộng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân.
Qua tình hình thực tế lượng mưa, các nguồn nước trên toàn tỉnh và nhận định khí tượng thủy văn cho thấy tình hình hạn hán sẽ xảy ra trên diện rộng ngay từ đầu vụ Đông xuân, trong đó tập trung gay gắt nhất ở các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Minh Hóa, Ba Đồn và hạn cục bộ ở vùng đồi, các hồ chứa nhỏ như Quảng Ninh, Lệ Thủy.
3. Các biện pháp ứng phó hạn hán
3.1 Khẩn trương thực hiện tốt các giải pháp ứng phó với hạn hán
Nghiêm túc thực hiện Công điện 32/CĐ-TW ngày 12/10/2015 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tại, Chỉ thị số 17/CT-UBND ngày 30/10/2015 của UBND tỉnh về việc tăng cường tích trữ nước, phòng chống hạn hán, đảm bảo nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp vụ Đông xuân 2015-2016 và năm 2016; Sở Nông nghiệp và PTNT đã có công văn số 1461/SNN-PCLB ngày 07/9/2015 về việc tích nước các tháng mùa lũ; Công văn số 1739/SNN-KTNN ngày 20/10/2015 về việc tăng cường tích trữ nước, phòng chống hạn, đảm bảo nước phụ vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp năm 2016.
3.2 Phối hợp chặt chẽ trong quản lý, sử dụng nước
- Thường xuyên theo dõi chặt chẽ thông tin diễn biến thời tiết để tiếp tục tích trữ nước ở các hồ chứa; củng cố, tôn cao bờ ao hồ tự nhiên, đắp đập tạm ở các kênh rạch; tranh thủ thời thiết thuận lợi, đẩy nhanh tiến độ làm đất, cày ải đồng thời tu sửa bờ vùng, bờ thửa để giữ nước trên mặt ruộng, tận dụng tưới đợt đầu nhằm tận dụng tối đa nguồn nước hiện có, để dành nước ở các hồ chứa cho vụ Hè thu. Duy tu bảo dưỡng, nạo vét, khơi thông các công trình thủy lợi, chống rò rỉ, giảm thiểu thất thoát nước.
- Thực hiện quy trình tưới tiên tiến, tiết kiệm nước ngay từ đầu vụ Đông xuân (nông lộ phơi, SRI), áp dụng hình thức tưới luân phiên, vùng xa tưới trước,
- Phối hợp chặt chẽ với địa phương lập kế hoạch dùng nước, lịch tưới, mức tưới của từng đợt theo thời kỳ sinh trưởng của cây trồng cho từng đợt theo thời kỳ sinh trưởng của cây trồng cho từng xứ đồng để chủ động sản xuất. Đồng thời, cần chuyển đổi cơ cấu giống lúa theo hướng sử dụng giống ngắn ngày để tiết kiệm nước, giảm chi phí và rủi ro trong sản xuất. Vụ Đông xuân sử dụng giống lúa như HT1, Bte-1, SV181, SV46, PC6, KD18, DV108… Vụ Hè thu sử dụng giống cực ngắn ngày như PC6, P6 đột biến, SV181… ở những diện tích đảm bảo nước tưới. Lượng giống gieo sạ vụ Đông xuân:60-80kg/ha.

Kiểm tra tình hình nước tại các hồ trên địa bàn tỉnh

Bên cạnh đó, cần tích cực chuyển đổi cây trồng cạn trên đất lúa thiếu nước. Đối với những vùng không đủ nước tưới, sớm xây dựng phương án chuyển đổi cây trồng trên những diện tích sản xuất lúa bị thiếu nước vụ Hè thu để người sản xuất chủ động triển khai ngay sau khi thu hoạch vụ Đông xuân, áp dụng các biện pháp sử dụng triệt để nguồn nước có trong hồ đập, ao hồ tưới vào các thời kỳ quan trọng của cây trồng, kết hợp sử dụng các vật liệu che phủ gốc để giữ ẩm. Tăng cường công tác tuyên truyền về tình hình hạn hán để người dân có ý thức, chủ động thực hiện các biện pháp tiết kiệm nước trong sinh hoạt và sản xuất, chủ động chuyển đổi cây trồng thích hợp trên vùng đất bị hạn. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến quy trình chăm sóc các cây trồng cạn chuyển đổi trên đất lúa. Tổ chức liên kết các doanh nghiệp tham gia thu mua nông sản, cây làm thức ăn gia súc… trên địa bàn với các địa phương đưa ra phương án hợp tác ngay từ đầu vụ sản xuất. Liên hệ với các doanh nghiệp, địa phương chủ động nguồn cung ứng giống, vật tư, phân bón cho cây trồng chuyển đổi.

Nguồn trang TT Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Bình

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 10

  • Hôm nay 392

  • Tổng 10.400.640