Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
Giảm nhẹ thiệt hại do tai biến địa chất gây ra
.jpg)
Giảm nhẹ thiệt hại do tai biến địa chất gây ra
Trong câu chuyện về nghề nghiệp với chúng tôi, Chủ tịch Hội đồng khoa học, Viện Ðịa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (HLKH và CNVN) PGS, TSKH Trần Trọng Hòa cũng như TS Bùi Ân Niên đều chia sẻ: Cũng làm nghiên cứu khoa học và công nghệ (KH và CN) nhưng chúng tôi phải thường xuyên đi thực địa, ít thì một tuần, dài có khi cả tháng trời. Nơi chúng tôi đến thường là núi cao, suối sâu thuộc các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên hay vùng biển đảo Trường Sa, Phú Quốc... Sau mỗi chuyến đi là phân tích và đối chiếu so sánh các số liệu điều tra, hình ảnh ghi chụp được, mẫu vật nhằm nghiên cứu hoạt động của các đứt gãy và tai biến địa chất, trường ứng suất kiến tạo lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam; phát hiện và đánh giá triển vọng các loại khoáng sản mới, quý hiếm; môi trường khai thác khoáng sản và công nghệ xử lý ô nhiễm thân thiện môi trường... Không có những chuyến đi dài ngày và "ba cùng" với người dân các dân tộc tận rẻo cao như Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai), Hoàng Su Phì, Xín Mần (Hà Giang), lưu vực sông Nậm Rốm (Ðiện Biên), Mường Tè (Lai Châu)... của các nhà khoa học thì khó thực hiện được các chương trình KH và CN cấp Nhà nước. Ðó là "Nghiên cứu sự thành tạo khe nứt hiện đại và một số biện pháp phòng, chống chủ yếu" do GS Nguyễn Trọng Yên làm chủ nhiệm. Ðây là một công trình có giá trị khoa học và thực tiễn rất lớn, được triển khai trên toàn lãnh thổ nước ta. Kết quả của chương trình đã làm cơ sở định hướng cho việc quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do các tai biến địa chất gây ra ở khá nhiều địa phương trong cả nước. Bộ KH và CN đã và đang triển khai thực hiện chương trình trọng điểm cấp nhà nước (giai đoạn từ 2011 đến 2015) "Nghiên cứu KH và CN phục vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên", bao gồm hơn 40 đề tài và dự án sản xuất thử nghiệm. Trong đó, một số đề tài tập trung nghiên cứu, hoàn thiện và đánh giá khả năng sử dụng công nghệ dự báo một số dạng tai biến nguy hiểm thường xảy ra ở nước ta, với các hạn dự báo phù hợp; góp phần cảnh báo sớm với độ chính xác khá cao (các hiện tượng mưa bão, lũ lụt, lũ quét và lũ ống ở miền núi phía bắc, hạn hán ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên). Ðồng thời nghiên cứu các công nghệ mới, áp dụng cho các công trình phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai nhằm nâng cao hiệu quả, độ bền vững và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam (như các công nghệ bảo vệ bờ sông, bờ biển; công nghệ mới gia cố đê biển; công tác vận hành các hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn hạn chế các thiệt hại đối với dân sinh, kinh tế vùng hạ du...). Ðáng chú ý, trong đó có một số đề tài, bước đầu phát huy tác dụng, như "Nghiên cứu địa động lực hiện đại, đứt gãy hoạt động và tai biến tự nhiên có liên quan (động đất, trượt lở, nứt sạt đất) ở các lưu vực sông Cả - Rào Nay. Ðề xuất các biện pháp ứng phó giảm nhẹ thiên tai phục vụ quy hoạch xây dựng các công trình trên khu vực" do PGS, TS Cao Ðình Triều chủ trì. Ðề tài đã có nhiều phân tích, luận giải góp phần tư vấn, phản biện cho một vấn đề thời sự lâu nay như nguyên nhân gây ra động đất xảy ra ở khu vực thủy điện Sông Tranh 2 (Bắc Trà My, Quảng Nam).
Ðặc thù công việc của các nhà khoa học địa chất là phải thường xuyên đi thực địa, khi lên rừng, lúc xuống biển. Trang thiết bị phục vụ cho nghiên cứu còn nghèo và có phần lạc hậu nhưng với sự nỗ lực và niềm đam mê, không kể các đề tài cấp viện hàn lâm và cấp cơ sở, trong hai năm từ 2014 đến 2015 (cả chuyển tiếp và mở mới), tập thể các nhà khoa học Viện Ðịa chất triển khai, thực hiện 15 đề tài cấp Nhà nước. Kết hợp hài hòa giữa nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng, các nhà địa chất học bên cạnh những vấn đề của địa động lực hiện đại, địa vật lý, cũng đang tập trung đi sâu vào các lĩnh vực địa kỹ thuật, khoáng sản, khoáng vật và thạch luận. Khảo sát tìm nguồn nước phục vụ đời sống người dân vùng đặc biệt khó khăn là một đóng góp lớn của các nhà khoa học địa chất. Với công nghệ hồ treo vách núi do PGS, TSKH Vũ Cao Minh (nguyên Phó Viện trưởng Ðịa chất) chủ trì, từ 10 đến 15 hồ đến nay vùng cao nguyên đá Hà Giang đã phát triển được gần 90 hồ treo vách núi (dung tích từ 5.000 m3 đến hàng chục nghìn m3) và hết năm 2015 sẽ xây dựng được khoảng 300 hồ kiểu này. Góp phần giải quyết tình trạng khan hiếm nước sinh hoạt, nhất là về mùa khô cho đồng bào các dân tộc rẻo cao biên giới... Bởi vậy, định hướng nghiên cứu của ngành địa chất đến năm 2020, một mặt quan tâm các tai biến tự nhiên do tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt gây ra, mặt khác coi trọng việc nghiên cứu xác lập cơ sở đánh giá triển vọng tài nguyên khoáng sản, nhất là khoáng sản quý hiếm (vàng, đá quý, kim loại nhóm platin). Ðồng thời đẩy mạnh công tác thăm dò, tìm kiếm một số khoáng sản quan trọng; xây dựng quy hoạch khảo sát, điều tra cũng như khai thác, chế biến và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản phục vụ thiết thực sự nghiệp CNH, HÐH đất nước.
Tác giả bài viết: NGUYỄN KHÔI
Nguồn tin: nhandan.org.vn
- Công nhận và đưa vào khai thác tuyến du lịch khám phá hệ thống hang động Tú Làn
- Hoạt động khai thác khoáng sản: Tăng xử phạt - quản chặt hơn!
- Khám phá Sơn Đoòng là một trong những tour mạo hiểm "đáng trải nghiệm" nhất trên thế giới
- Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng: Năm 2015, cơ bản chấm dứt xuất khoáng sản lậu
- Triển lãm và hội thảo quốc tế về khoáng sản Mining Vietnam 2014
- Những vùng địa chất kỳ lạ trên thế giới
- Quảng Bình: Xử phạt hàng chục “cát tặc” trên sông Gianh
- Quảng Bình: Phạt doanh nghiệp vi phạm khai thác cát lòng sông 440 triệu đồng
- Triển khai cắm biển cấm khai thác trái phép cát, sỏi lòng sông tại huyện Tuyên Hóa và Quảng Trạch
- Tăng cường quản lý, đẩy lùi nạn “rút ruột” lòng sông


