Hợp nhất quy định về chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thuỷ sản

Post date: 24/09/2026

Font size : A- A A+

Ngày 21/9/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác thực Văn bản hợp nhất số 89/2026 /VBHN-TT-BNNMT Quy định về chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ, trên cơ sở hợp nhất các quy định tại Thông tư số 38/2018/TT-BNNPTNT, Thông tư số 17/2024/TT-BNNPTNT, Thông tư số 17/2025/TT-BNNMT và Thông tư số 22/2026/TT-BNNMT. Văn bản hợp nhất giúp hệ thống hóa các quy định hiện hành về thẩm định, cấp và thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, kiểm tra an toàn thực phẩm và trách nhiệm của cơ quan quản lý, cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Phạm vi điều chỉnh tập trung vào việc chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm và hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời cập nhật các nội dung sửa đổi, bổ sung và phân cấp quản lý nhà nước được thực hiện trong thời gian qua. Văn bản hợp nhất xác định rõ đối tượng áp dụng, thẩm quyền, trình tự thẩm định, cấp và thu hồi Giấy chứng nhận, kiểm tra an toàn thực phẩm cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan.

Rõ đối tượng phải chứng nhận và đối tượng kiểm tra: Đối tượng chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm là các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành, trừ một số nhóm cơ sở theo quy định. Các trường hợp được loại trừ gồm: sản xuất ban đầu nhỏ lẻ; sản xuất, kinh doanh thực phẩm không có địa điểm cố định, tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 15 mét; sơ chế nhỏ lẻ; kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ; kinh doanh thực phẩm bao gói sẵn và các cơ sở đã có một số chứng nhận, hệ thống quản lý an toàn thực phẩm còn hiệu lực như GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương.

Mặc dù không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận theo quy định trên, các cơ sở đã có các chứng nhận hoặc hệ thống quản lý an toàn thực phẩm như GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC, FSSC 22000 hoặc tương đương vẫn thuộc đối tượng kiểm tra an toàn thực phẩm. Quy định này góp phần bảo đảm hoạt động quản lý, giám sát được thực hiện thống nhất đối với các nhóm cơ sở thuộc phạm vi quản lý.

Quy trình thẩm định được quy định cụ thể, chú trọng đánh giá thực tế: Văn bản hợp nhất quy định việc thẩm định điều kiện an toàn thực phẩm được thực hiện trên cơ sở các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật và quy định có liên quan. Nội dung thẩm định bao gồm điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị; nguồn nhân lực tham gia sản xuất, kinh doanh và quản lý an toàn thực phẩm; việc thực hiện các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chương trình quản lý an toàn thực phẩm và ghi nhãn hàng hóa. Khi có nghi ngờ sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm hoặc hoạt động kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm của cơ sở không bảo đảm, Đoàn thẩm định có thể xem xét quyết định lấy mẫu kiểm nghiệm trên cơ sở đánh giá nguy cơ.

Phương pháp thẩm định kết hợp xem xét hồ sơ, tài liệu lưu trữ với đánh giá thực tế tại cơ sở, trong đó có nhà xưởng, trang thiết bị, nguồn lực quản lý, chương trình quản lý an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, thu hồi và xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn; đồng thời phỏng vấn các đối tượng liên quan và lấy mẫu khi cần thiết.

Kết quả thẩm định được phân loại thành đạt và không đạt. Cơ sở được xác định đạt khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định; trường hợp chưa đáp ứng hoặc có điểm không phù hợp không thể khắc phục trong thời hạn yêu cầu thì được xác định không đạt.

Về hồ sơ, thời hạn và cấp Giấy chứng nhận: Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận gồm các thành phần theo quy định của Luật An toàn thực phẩm, trong đó có đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận, bản thuyết minh về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ bảo đảm điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm và giấy xác nhận đã được tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm của chủ cơ sở và người trực tiếp sản xuất, kinh doanh theo quy định.

Cơ sở có thể nộp hồ sơ thông qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến, qua đường bưu điện hoặc trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận, cơ quan thẩm quyền kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và thông báo kết quả, đồng thời thông báo ngày dự kiến thẩm định nếu hồ sơ hợp lệ.

Việc thẩm định tại cơ sở được thực hiện trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp kết quả thẩm định đạt yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm và có hiệu lực 03 năm kể từ ngày cấp. Nếu trong quá trình thẩm định có lấy mẫu kiểm nghiệm thì việc cấp Giấy chứng nhận được thực hiện khi kết quả kiểm nghiệm đạt yêu cầu.

Đối với cơ sở có kết quả thẩm định không đạt nhưng thực hiện khắc phục và được thẩm tra đạt yêu cầu trong thời hạn quy định, cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp Giấy chứng nhận theo quy định. Trường hợp cơ sở không khắc phục hoặc không đáp ứng yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền thông báo kết quả và không cấp Giấy chứng nhận; đồng thời thực hiện các biện pháp quản lý theo quy định để bảo đảm cơ sở không hoạt động khi chưa đáp ứng điều kiện an toàn thực phẩm.

Đối với công tác kiểm tra an toàn thực phẩm, Văn bản hợp nhất quy định việc kiểm tra được thực hiện bởi Đoàn kiểm tra do cơ quan có thẩm quyền thành lập, bảo đảm trách nhiệm và quyền hạn theo Luật An toàn thực phẩm.Hằng năm, cơ quan có thẩm quyền căn cứ yêu cầu quản lý, tình hình tuân thủ pháp luật về an toàn thực phẩm, diễn biến sự cố an toàn thực phẩm, kết quả giám sát, thanh tra, kiểm tra kỳ trước và chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên để xây dựng kế hoạch kiểm tra. Trước khi tiến hành kiểm tra theo kế hoạch, cơ sở được thông báo bằng văn bản tối thiểu 03 ngày; tần suất kiểm tra theo kế hoạch không quá 01 lần/cơ sở/năm, trừ trường hợp kiểm tra đột xuất.

Kiểm tra đột xuất được thực hiện khi cơ sở có dấu hiệu vi phạm hoặc xảy ra sự cố về an toàn thực phẩm; có cảnh báo của tổ chức trong nước, nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế; có phản ánh của tổ chức, cá nhân liên quan đến an toàn thực phẩm hoặc thực hiện kiểm tra chuyên đề theo chỉ đạo của cơ quan quản lý cấp trên.

Văn bản hợp nhất đồng thời quy định trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Cơ sở phải bố trí người có đủ thẩm quyền làm việc với đoàn thẩm định; tạo điều kiện để đoàn thẩm định thực hiện nhiệm vụ, lấy mẫu và tiếp cận hồ sơ, tài liệu liên quan; khắc phục đầy đủ các sai lỗi được nêu trong biên bản; niêm yết công khai biên bản thẩm định tại cơ sở; thu hồi, xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định.

Cơ sở cũng có quyền khiếu nại với cơ quan thẩm định khi không nhất trí với kết quả thẩm định và phải thông báo cho cơ quan thẩm định khi dừng sản xuất, kinh doanh, giải thể, thay đổi địa điểm sản xuất, thay đổi điều kiện sản xuất hoặc thay đổi chủ sở hữu.

Cùng với các quy định về trình tự, thủ tục, Văn bản hợp nhất cập nhật hệ thống biểu mẫu phục vụ công tác quản lý. Trong đó có mẫu biên bản kiểm tra an toàn thực phẩm tại cơ sở; danh mục mẫu biên bản thẩm định đối với từng loại hình cơ sở; đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận; bản thuyết minh về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và mẫu Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm.

Việc hợp nhất các quy định giúp cơ quan quản lý, tổ chức, cá nhân và cơ sở sản xuất, kinh doanh thuận tiện trong tra cứu, áp dụng thống nhất các quy định hiện hành về chứng nhận và kiểm tra an toàn thực phẩm trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương tổ chức thực hiện công tác thẩm định, chứng nhận, kiểm tra an toàn thực phẩm theo phân công, phân cấp; đồng thời giúp các cơ sở sản xuất, kinh doanh chủ động rà soát, duy trì và hoàn thiện các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình hoạt động.

Trần Quốc Tuấn - Chi cục Kinh tế hợp tác và Quản lý chất lượng

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 12

  • Hôm nay 1104

  • Tổng 10.950.458