Đổi mới chính sách thuế tài nguyên, khuyến khích chế biến sâu

Post date: 23/07/2026

Font size : A- A A+

Dự thảo Luật Thuế tài nguyên sửa đổi sẽ tạo động lực mới cho hoạt động khai thác và chế biến tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản kim loại.

Gỡ nút thắt chính sách thuế tài nguyên

Luật Thuế tài nguyên được Quốc hội thông qua năm 2009 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2010. Trong hơn 15 năm triển khai, Luật này đã trở thành công cụ tài chính quan trọng trong quản lý hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cho việc thu thuế tài nguyên, nâng cao nhận thức về sử dụng tiết kiệm nguồn lực quốc gia, đồng thời tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ những hạn chế.

Theo Bộ Tài chính, một trong những bất cập lớn nhất là phương pháp tính thuế hiện nay chủ yếu dựa trên sản lượng tài nguyên đầu vào của quá trình chế biến. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đầy đủ giá trị gia tăng được tạo ra sau chế biến, chưa phân biệt rõ giữa khoáng sản nguyên khai với sản phẩm đã qua nhiều công đoạn chế biến sâu.

Dự thảo Luật Thuế tài nguyên sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến khoáng sản kim loại. Ảnh: Phúc Hưng.

Dự thảo Luật Thuế tài nguyên sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến khoáng sản kim loại. Ảnh: Phúc Hưng.

Chính bất cập đó khiến doanh nghiệp đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại cũng phải chịu mức thuế tương tự doanh nghiệp chỉ khai thác và bán quặng thô. Trong khi chi phí đầu tư công nghệ rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, chính sách thuế chưa tạo được động lực kinh tế đủ mạnh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu.

Theo cơ quan soạn thảo, đây cũng là điểm chưa đáp ứng đầy đủ chủ trương của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 10-NQ/TW về điều chỉnh thuế suất thuế tài nguyên đối với một số loại khoáng sản nhằm khuyến khích đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Bên cạnh đó, việc đổi mới công tác xây dựng pháp luật cũng đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh một số nội dung của Luật. Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định các đạo luật về phát triển kinh tế cần tập trung quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, còn những nội dung thường xuyên thay đổi nên giao Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành.

Đây cũng là căn cứ để Bộ Tài chính đề xuất điều chỉnh thẩm quyền quy định thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên.

Ngoài các yêu cầu về chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật chuyên ngành đã có nhiều thay đổi. Luật Địa chất và Khoáng sản 2024 thay thế Luật Khoáng sản 2010 với nhiều cách tiếp cận mới trong quản lý hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Cùng với đó, Luật Hải quan, Luật Điện lực và nhiều văn bản khác cũng đã điều chỉnh nhiều khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành.

Theo Bộ Tài chính, việc sửa đổi Luật Thuế tài nguyên lần này nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời tạo nền tảng pháp lý phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Khuyến khích đầu tư chế biến sâu

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành, rà soát các quy định pháp luật liên quan và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Thuế tài nguyên theo hướng hoàn thiện căn cứ tính thuế, tăng tính minh bạch trong quản lý, đồng thời sử dụng chính sách thuế như một công cụ khuyến khích khai thác, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả.

Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo là thay đổi căn cứ tính thuế. Theo đó, căn cứ tính thuế tài nguyên gồm sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất.

Riêng đối với khoáng sản kim loại, căn cứ tính thuế là doanh thu bán từng loại khoáng sản thuộc đối tượng chịu thuế (nguyên khai; quặng tinh hoặc khoáng sản đi kèm) và thuế suất. Doanh thu tính thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền, nhưng không thấp hơn doanh thu tính theo giá tính thuế do UBND cấp tỉnh quy định tương ứng.

Dự thảo quy định, đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện, giá tính thuế được xác định theo giá bán lẻ điện bình quân. Ảnh: Ngọc Đẹp.

Dự thảo quy định, đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện, giá tính thuế được xác định theo giá bán lẻ điện bình quân. Ảnh: Ngọc Đẹp.

Dự thảo cũng bổ sung nguyên tắc xác định thuế suất cụ thể đối với một số nhóm tài nguyên. Theo đó, thuế suất đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than được xác định theo phương pháp lũy tiến từng phần dựa trên sản lượng khai thác bình quân ngày; còn thuế suất đối với khoáng sản kim loại được xác định theo mức độ chế biến. Như vậy, khoáng sản nguyên khai khai thác và bán trực tiếp sẽ chịu mức thuế cao nhất; quặng tinh chưa đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu chịu mức thuế thấp hơn; quặng tinh đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu được áp dụng mức thuế thấp hơn nữa. Quy định này nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ tiên tiến, hiện đại, nâng cao giá trị tài nguyên, thay vì khai thác, xuất bán khoáng sản thô.

Ngoài ra, dự thảo đã hoàn thiện quy định về giá tính thuế tài nguyên, bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành. Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện, giá tính thuế được xác định theo giá bán lẻ điện bình quân thay cho cách gọi “giá bán điện thương phẩm bình quân”, nhằm thống nhất với Luật Điện lực. Đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu, dự thảo quy định giá tính thuế là trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu theo quy định của pháp luật hải quan, không bao gồm thuế xuất khẩu. Quy định này nhằm tránh cách hiểu khác nhau trong quá trình xác định giá tính thuế, đồng thời bảo đảm thống nhất với pháp luật về hải quan.

Bên cạnh đó, dự thảo đã sửa đổi, hoàn thiện quy định về sản lượng tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên. Cụ thể, đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối hoặc lít theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam. Việc sửa đổi nhằm bảo đảm đồng bộ với quy định về đối tượng chịu thuế và biểu khung thuế suất, khắc phục sự chưa thống nhất giữa quy định hiện hành về “nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp” và nhóm nước thiên nhiên thuộc diện chịu thuế.

Theo: Phúc Hưng

Nguồn tin: https://nongnghiepmoitruong.vn/doi-moi-chinh-sach-thue-tai-nguyen-khuyen-khich-che-bien-sau-d822657.html

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 51

  • Hôm nay 1975

  • Tổng 10.575.307