Miễn, giảm tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền

Post date: 09/06/2015

Font size : A- A A+
 Ngày 03/4/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 11/2015/QĐ-TTg về miễn, giảm tiền SDĐ khi công nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở có nguồn gốc được giao (cấp) không đúng thẩm quyền trước ngày 15/10/1993 tại địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2015
 Đối tượng áp dụng là hộ gia đình, cá nhân SDĐ ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 15/10/1993 quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định về thu tiền SDĐ tại địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, bao gồm: Đất được Nhà nước giao hoặc cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuê quản lý, sử dụng nhưng cơ quan, tổ chức, đơn vị đã phân (cấp) không đúng thẩm quyền cho cán bộ, công nhân viên, người lao động của cơ quan, tổ chức, đơn vị làm nhà ở; đất do người đứng đầu điểm dân cư, UBND cấp xã giao (cấp) không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở. Việc xác định danh mục địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn, điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo được quy định tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Về nguyên tắc miễn, giảm tiền SDĐ, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được miễn hoặc giảm tiền SDĐ thì chỉ được miễn hoặc giảm một lần. Người SDĐ chỉ được hưởng ưu đãi miễn, giảm tiền SDĐ sau khi thực hiện các thủ tục để được miễn, giảm theo quy định. Trường hợp người SDĐ thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền SDĐ có nguyện vọng nộp tiền SDĐ thì thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai như đối với trường hợp không được miễn, giảm tiền SDĐ và có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về đất đai như trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền SDĐ.

Mức miễn, giảm tiền SDĐ trong hạn mức giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân được giao (cấp) đất không đúng (trái) thẩm quyền trước ngày 15/10/1993 được quy định cụ thể là miễn tiền SDĐ trong hạn mức giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; giảm 50% tiền SDĐ theo mức thu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP trong hạn mức giao đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn. Cụ thể, mức thu tiền SDĐ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP bằng 40% tiền SDĐ theo giá đất ở đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở tại địa phương theo giá đất quy định tại bảng giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận QSDĐ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở (nếu có) thì hộ gia đình, cá nhân nộp tiền SDĐ bằng 100% tiền SDĐ đối với phần diện tích vượt hạn mức giao đất ở (nếu có) theo giá đất cụ thể quy định tại điểm b, điểm c khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP tại thời điểm có quyết định công nhận QSDĐ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Giá đất cụ thể được xác định theo các phương pháp so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập, thặng dư quy định tại Nghị định của Chính phủ về giá đất áp dụng khi thửa đất có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) từ 30 tỷ đồng trở lên đối với các thành phố trực thuộc trung ương; từ 10 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; từ 20 tỷ đồng trở lên đối với các tỉnh còn lại. Giá đất cụ thể được xác định theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất áp dụng đối với trường hợp diện tích tính thu tiền SDĐ của thửa đất hoặc khu đất có giá trị (tính theo giá đất trong bảng giá đất) dưới 30 tỷ đồng đối với các thành phố trực thuộc trung ương; dưới 10 tỷ đồng đối với các tỉnh miền núi, vùng cao; dưới 20 tỷ đồng đối với các tỉnh còn lại.

Xác định diện tích đất trong hạn mức phải bảo đảm nguyên tắc mỗi hộ gia đình (bao gồm cả hộ gia đình hình thành do tách hộ theo quy định của pháp luật), cá nhân chỉ được xác định hạn mức công nhận đất ở một lần và trong phạm vi một tỉnh. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhiều thửa đất trong phạm vi một tỉnh thì hộ gia đình, cá nhân đó được cộng dồn diện tích đất của các thửa đất để xác định diện tích đất trong hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở nhưng tổng diện tích đất lựa chọn không vượt quá hạn mức giao đất ở hoặc hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nơi lựa chọn.

Hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền SDĐ gồm: Đơn đề nghị được miễn, giảm tiền SDĐ (ghi rõ diện tích, lý do miễn, giảm); giấy tờ được cơ quan, tổ chức, đơn vị phân (cấp) đất làm nhà ở hoặc giấy tờ do người đứng đầu điểm dân cư, UBND cấp xã giao (cấp) đất làm nhà ở (bản sao). Trường hợp thất lạc, không còn lưu giữ được giấy tờ giao, phân (cấp) đất thì phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức, đơn vị, người đứng đầu điểm dân cư, UBND cấp xã về việc đã cấp đất làm nhà ở cho hộ gia đình, cá nhân (bản chính); các giấy tờ có liên quan về thửa đất (nếu có). Việc nộp hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền SDĐ được thực hiện cùng với hồ sơ xin công nhận (cấp giấy chứng nhận) QSDĐ tại Văn phòng Đăng ký QSDĐ hoặc cơ quan TN&MT. Căn cứ hồ sơ, phiếu chuyển thông tin địa chính của cơ quan TN&MT, kèm theo các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được miễn, giảm tiền SDĐ, chi cục thuế xác định tiền SDĐ phải nộp và số tiền SDĐ được miễn, giảm. Trên cơ sở đó, chi cục trưởng chi cục thuế ban hành quyết định số tiền SDĐ được miễn, giảm. Hộ gia đình, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận QSDĐ (cấp GCN) đối với đất ở có nguồn gốc được giao (cấp) không đúng thẩm quyền trước ngày 15/10/1993 tại địa bàn có điều kiện KT-XH khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo chưa được xác định tiền SDĐ phải nộp hoặc đã xác định và chưa thông báo tiền SDĐ phải nộp hoặc đã thông báo nhưng chưa nộp tiền SDĐ vào ngân sách nhà nước hoặc đang ghi nợ tiền SDĐ thì được áp dụng theo quy định tại Quyết định này.

Về thời hạn nộp tiền SDĐ, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký thông báo của cơ quan thuế, người SDĐ phải nộp 50% tiền SDĐ theo thông báo. Trong vòng 60 ngày tiếp theo, người SDĐ phải nộp 50% tiền SDĐ còn lại theo thông báo. Quá thời hạn này, người SDĐ chưa nộp đủ số tiền SDĐ theo thông báo thì phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền chưa nộp theo mức quy định của pháp luật về quản lý thuế trừ trường hợp có đơn xin ghi nợ tiền SDĐ đối với những trường hợp được ghi nợ. Về ghi nợ tiền SDĐ, hộ gia đình, cá nhân được cấp GCN phải nộp tiền SDĐ mà có khó khăn về tài chính, có nguyện vọng ghi nợ thì được ghi nợ số tiền SDĐ phải nộp trên GCN sau khi có đơn đề nghị kèm theo hồ sơ xin cấp GCN hoặc hồ sơ xin chuyển mục đích SDĐ hoặc hồ sơ giao đất tái định cư hoặc có đơn xin ghi nợ khi nhận thông báo nộp tiền SDĐ. Người SDĐ được trả nợ dần trong thời hạn tối đa là 5 năm; sau 5 năm kể từ ngày ghi nợ mà chưa trả hết nợ tiền SDĐ thì người SDĐ phải nộp tiền SDĐ còn lại theo giá đất tại thời điểm trả nợ. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân thanh toán nợ trước hạn thì được hỗ trợ giảm trừ vào tiền SDĐ phải nộp theo mức hỗ trợ là 2%/năm của thời hạn trả nợ trước hạn và tính trên số tiền SDĐ trả nợ trước hạn.


Tác giả bài viết: TS. Phạm Phương Nam (Khoa Quản lý đất đai, Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
Nguồn tin: tapchitainguyenvamoitruong.vn

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 6

  • Hôm nay 3370

  • Tổng 10.548.964