Quản lý tài nguyên khoáng sản ở Quảng Bình

Post date: 01/04/2019

Font size : A- A A+
 Thời gian qua, tỉnh Quảng Bình đã nỗ lực đẩy mạnh công tác quản lý tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển theo hướng bền vững. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện cũng còn nhiều khó khăn còn tháo gỡ.

* Đã điều tra, đánh giá và quản lý tài nguyên khoáng sản

Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình tài nguyên khoáng sản có 19 loại khoáng sản rắn và nước nóng - nước khoáng. Cụ thể, kim loại gồm có: Sắt, mangan, titan - zircol, chì - kẽm, volfram, vàng nhưng trữ lượng không lớn; khoáng chất công nghiệp có trữ lượng lớn gồm: Than bùn, phosphorit, pegmatit, kaolin, dolomit, cát thủy tinh; đá bán quý có: Đá silic màu; vật liệu xây dựng gồm: Đá vôi xi măng, sét xi măng, sét gạch ngói, cát, sỏi, đá ốp lát, đặc biệt là đá làm vật liệu xây dựng thông thường ước tính hàng tỷ m3; nước nóng, nước khoáng: Có 4 mỏ nước nóng có tiềm năng cho du lịch và khai thác công nghiệp, trong đó có suối nước khoáng Bang - Lệ Thủy, nhiệt độ lên đến 1050C. Tài nguyên khoáng sản đã được điều tra, đánh giá, quy hoạch đồng bộ và quản lý ngày càng chặt chẽ, phát huy giá trị phát triển kinh tế.

Thời gian qua, tỉnh Quảng Bình đã hoàn thành quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2025, toàn tỉnh có 167 khu vực mỏ, trong đó: 56 khu vực mỏ đá làm vật liệu xây dựng thông thường; 23 khu vực mỏ sét gạch ngói; 49 khu vực mỏ cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường; 38 khu vực mỏ đất làm vật liệu san lấp; 01 khu vực mỏ titan. Khoanh định 1.787 khu vực cấm hoạt động khoáng sản với tổng diện tích 390.657,95 ha và 171 khu vực tạm thời cấm với tổng diện tích 14.034,27 ha. Tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản công khai, minh bạch, thu hút được các nhà đầu tư có năng lực tài chính, kỹ thuật để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng theo hướng hiện đại, phục vụ phát triển kinh tế nhưng vẫn bảo đảm công tác bảo vệ môi trường.

Việc thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực khoáng sản từng bước đã được điều chỉnh theo hướng công khai, minh bạch tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong thực hiện thăm dò, đánh giá trữ lượng và cấp phép khai thác khoáng sản. Từ năm 2010 đến cuối năm 2018, UBND tỉnh đã cấp 145 giấy phép khai thác khoáng sản, trong đó, có 94 giấy phép đang còn hiệu lực. Hoạt động khai thác khoáng sản cơ bản đáp ứng nhu cầu sử dụng trên địa bàn và cung cấp cho các địa phương khác, góp phần không nhỏ vào giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và tăng thu ngân sách cho tỉnh.

* Nhiều vấn đề cần tháo gỡ

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý Nhà nước đối với các dự án khai thác tài nguyên khoáng sản còn có những vấn đề đặt ra trên địa bàn đòi hỏi cả Trung ương và tỉnh cần quan tâm tháo gỡ, cụ thể: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình nhiều điểm mỏ có quy mô vùng khai thác công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng chưa được đầu tư thăm dò, đánh giá trữ lượng để làm cơ sở đấu giá quyền khai thác khoáng sản hoặc cấp phép khai thác phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Bên cạnh đó, công tác khoanh định các khu vực khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ theo quy định của Luật Khoáng sản đến nay chưa được Bộ TN&MT công bố, gây khó khăn cho việc quản lý và khai thác có hiệu quả tài nguyên trên địa bàn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Luật Đất đai năm 2013 quy định việc giao đất cho hoạt động khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh, tuy nhiên, việc giải phóng mặt bằng do doanh nghiệp tự thỏa thuận với người sử dụng đất trong khu vực được cấp phép. Quy định này đang tạo ra mâu thuẫn khiến nhiều doanh nghiệp trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản hoặc đã được cấp phép khai thác khoáng sản nhưng không thỏa thuận được bồi thường giải phóng mặt bằng nên không triển khai đi vào hoạt động được, gây khó khăn, lãng phí cho doanh nghiệp và công tác quản lý Nhà nước.

Ngoài ra, hiện nay, các doanh nghiệp được cấp phép khai thác trước ngày 20/01/2014 (ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP có hiệu lực) đang được tính thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo trữ lượng địa chất, không tính theo trữ lượng được cấp phép khai thác, tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được cấp phép trước ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP có hiệu lực, vì cách tính tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thiếu thống nhất. Doanh nghiệp được cấp phép trước ngày Nghị định 203/2013/NĐ-CP có hiệu lực muốn xác định lại tiền cấp quyền phải thực hiện thăm dò đánh giá lại trữ lượng để xác định lại trữ lượng được cấp phép khai thác; Quy định này càng gây khó khăn và tốn kém cho doanh nghiệp khi phải thực hiện lại thủ tục này.

 

Đối với khoáng sản là cát, sỏi lòng sông khi phê duyệt trữ lượng chưa có hướng dẫn phương pháp tính khối lượng bồi lắng hằng năm. Do vậy, dễ làm thất thu ngân sách trong xác định chính xác trữ lượng cấp phép khai thác.

Theo: Trường Giang

Nguồn tin: monre.gov.vn

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 4

  • Hôm nay 452

  • Tổng 10.323.816