Đề án phát triển chăn nuôi giai đoạn 2011 – 2015

Post date: 23/12/2025

Font size : A- A A+

Qua 5 năm thực hiện Đề án phát triển chăn nuôi của huyện đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng, tạo đà phát triển giai đoạn tiếp theo

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIAI ĐOẠN 2006-2010
 

1. Tình hình phát triển chăn nuôi:

 Qua 5 năm thực hiện Đề án phát triển chăn nuôi của huyện đạt được những kết quả quan trọng, tạo sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng, tạo đà phát triển giai đoạn tiếp theo

Tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 38,8% năm 2006 lên 46,7% năm 2010. Tỷ lệ đàn bò lai tăng từ 3,7% năm 2006 lên 11,7% năm 2010. Đàn lợn ngoại phát triển mạnh năm 2006 toàn huyện chỉ có 15 con lợn nái ngoại, đến năm 2010 có 159 con; 1.004 con lợn nái lai, 86 con lợn nái móng cái chiếm 6,9% tổng đàn lợn nái. Đặc biệt sản lượng thịt xuất chuồng tăng từ 2.747 tấn năm 2006 lên 4.410 tấn năm 2010, tăng bình quân 12,56%/năm. Diện tích trồng cỏ làm thức ăn cho gia súc là 274 ha đạt 101,5% so với kế hoạch. Từ chăn nuôi nhỏ lẻ, nông hộ đã hình thành và phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, trang trại. Năm 2006 huyện chưa có trang trại chăn nuôi, nhưng đến năm 2010 có 14 trang trại chăn nuôi; sản phẩm chăn nuôi đã được xuất bán ra các địa bàn trong và ngoài tỉnh. Đề án phát triển chăn nuôi của huyện đã tác động rất lớn đến nhận thức của người dân trong việc phát triển chăn nuôi, nhất là bò lai, lợn ngoại; hiệu quả thu được từ chăn nuôi ngày càng cao.

a. Chăn nuôi trâu, bò :

Năm 2010 đàn trâu trên toàn huyện đạt 8.699 con, tổng đàn tương đối ổn định qua các năm. Với lợi thế tự nhiên có nhiều đồng cỏ cùng với hệ thống giao thông ngày càng phát triển tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiêu thụ sản phẩm do vậy tổng đàn ở các xã rẻo cao như Lâm Hóa, Thanh Hóa, Hương Hóa, Thanh Thạch... tăng nhanh.

Theo số liệu thống kê đến năm 2010, tổng đàn bò: 17.920, trong đó bò lai Sind 2.096 con; số bò đực giống Sind do dự án ADB hỗ trợ hiện còn 18 con. Chương trình Thụ tinh nhân tạo đã phối giống được 1.216 bò cái có chửa và sinh sản được 1.005 bê lai Sind.

Chương trình Sind hóa đàn bò đã đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi nhờ nâng cao tầm vóc và khả năng tăng trọng, từng bước thay đổi tâm lý, tập quán chăn nuôi của nông dân.

Chương trình vỗ béo bò của Dự án Đa dạng hóa nông nghiệp, Dự án ADB đã đem lại hiệu quả kinh tế cao tăng thu nhập cho người nuôi.

Tranh thủ sự hỗ trợ của các chương trình dự án chuyển giao những tiến bộ KHKT mới trong chăn nuôi như: mô hình vổ béo bò, ủ rơm bằng Urê, phát triển trồng cỏ để chăn nuôi bò tại chuồng được Trạm Khuyến nông, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh huyện triển khai rộng khắp ở các xã, thị trấn. Được nông dân đồng tình hưởng ứng buớc đầu đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi đại gia súc.

b. Chăn nuôi lợn:

Chăn nuôi lợn đang dịch chuyển theo hướng sản xuất hàng hoá, chăn nuôi nhỏ lẻ ngày càng giảm, các cơ sở chăn nuôi có quy mô 150 lợn thịt/năm xuất hiện ngày càng nhiều. Các hộ chăn nuôi không chỉ quan tâm đến phát triển qui mô mà còn chú trọng đến chất lượng con giống. Do vậy số lượng lợn ngoại ngày càng tăng, các trang trại, gia trại chăn nuôi đang dần từng bước dịch chuyển giống lợn thuần ngoại vào nuôi bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế.

Năm 2010 toàn huyện có: 28.372 con, trong đó lợn nái 1.249 con (lợn nái 100% máu ngoại 159 con, lợn nái lai F1- F2 1.004 con, lợn nái móng cái 86 con).

c. Chăn nuôi gia cầm:

Chăn nuôi gia cầm phát triển về số lượng tổng đàn; nhiều hộ gia đình chăn nuôi đã chuyển tập quán chăn nuôi từ nuôi quảng canh sang hướng bán thâm canh ngày càng nhiều, quy mô 300 - 2.000 con (vừa cho ăn thức ăn công nghiệp vừa tận dụng thức ăn sẳn có ở địa phương) do đó rút ngắn được thời gian nuôi, tăng số lứa nuôi/năm, nên trọng lượng thịt xuất chuồng tăng cao.

Bên cạnh việc di nhập các loại gia cầm có năng suất cao, bà con nông dân tiếp tục duy trì phát triển các giống gà có chất lượng thịt thơm ngon như gà Ri.. để nâng cao hiệu quả thu nhập.

Tuy nhiên do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm lây sang người nên gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng, đã có một thời gian người tiêu dùng quay lưng với thịt gia cầm do vậy tốc độ tăng đàn gia cầm vẫn còn hạn chế.

2. Cơ sở vật chất nguồn lực của chăn nuôi :

Hiện nay toàn huyện có 08 trang trại nuôi lợn thịt, lợn nái và lợn đực giống tập trung tại các xã Tiến Hóa, Thạch Hóa, Thuận Hóa, Sơn Hóa, Kim Hóa kế hoạch có thể đáp ứng đủ 30 - 40% con giống trên địa bàn và cung cấp tinh cho các hộ nuôi lợn nái trong vùng; có 06 trang trại chăn nuôi bò tập trung chủ yếu Sơn Hóa, thị trấn Đồng Lê, Thanh Hóa. Bò đực giống lai Sind hiện có 18 con; có 03 điểm TTNT bò và 06 cán bộ dẫn tinh viên đã góp phần vào chương trình cải tạo đàn bò cho địa phương. Phong trào trồng cỏ chăn nuôi trâu, bò phát triển mạnh ở một số xã như: Tiến Hóa, Nam Hóa, Mai Hóa, Sơn Hóa…với diện tích trên 270 ha, phần nào giải quyết được tình trạng khan hiếm thức ăn về mùa Đông và mùa khô hạn.

Mạng lưới thú y Tuyên Hóa  với 06 cán bộ Trạm Thú y và 20 cán bộ Thú y cơ sở có nghiệp vụ chuyên môn từ trung cấp trở lên, đã tích cực chỉ đạo công tác thú y cơ sở, bảo vệ an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm.

3. Tình hình sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm chăn nuôi :

Trên địa bàn huyện chưa có cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi và lò mổ tập trung, việc giết mổ chủ yếu ở các lò mổ tư nhân. Mức tiêu thụ các sản phẩm thịt trâu, bò trên địa bàn còn ít nên sản phẩm chăn nuôi chủ yếu do các thương lái vận chuyển về vùng xuôi và vào các tỉnh phía Nam.

Chăn nuôi lợn trong những năm qua có chiều hướng phát triển, sản phẩm chủ yếu phục vụ trên địa bàn. Bên cạnh đó thịt lợn được các thương lái chuyển từ các nơi khác đến, do vậy thị trường tiêu thụ không ổn định, giá cả bấp bênh.

4. Một số tồn tại và nguyên nhân của công tác chăn nuôi:

Tuy nhiên, kết quả thực hiện Đề án thu được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện và còn bộc lộ một số tồn tại, khó khăn cần phải tiếp tục chỉ đạo để khắc phục tháo gỡ:

- Chăn nuôi trong những năm qua tuy có chuyển biến tích cực nhưng tốc độ phát triển còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong sản xuất nông nông nghiệp 46,7%  chưa tương xứng với thế mạnh và tiềm năng của huyện.

- Chất lượng đàn gia súc, gia cầm cải tiến chậm. Chưa có nguồn giống chất lượng tốt để người chăn nuôi chuyển đổi con giống.

- Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi của người dân đang còn hạn chế. Công tác dịch vụ phục vụ chăn nuôi chưa đồng bộ và còn mang nặng tính bao cấp.

- Công tác phòng trừ dịch bệnh, vệ sinh thú y chưa thực sự được người dân quan tâm đúng mức.

- Tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp như bệnh LMLM, Tai xanh ở lợn, dịch Cúm gia cầm...

- Chưa đảm bảo an toàn dịch bệnh cho gia súc, gia cầm;  Không có lò giết mổ tập trung mà nằm rải rác ở các lò mổ tư nhân nên ảnh hưởng đến việc kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y và gây ô nhiểm môi trường.

* Nguyên nhân của những tồn tại trên là:

- Một số địa phương chưa xây dựng được đề án phát triển chăn nuôi hoặc xây dựng mang tính chiếu lệ, chưa  quy hoạch được vùng để phát triển chăn nuôi, chưa xác định được đối tượng ưu tiên phát triển, chưa có chính sách, khuyến khích đầu tư thích đáng nên chăn nuôi đang phát triển dưới dạng tự phát, nhỏ lẻ và không tập trung.

- Chưa có chính sách vay vốn ưu đãi, điều kiện kinh tế của nông dân còn hạn chế, đa số các hộ chăn nuôi mang tính chất tận dụng thức ăn, chưa mạnh dạn đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa.

- Mạng lưới dịch vụ, các cơ sở vật chất phục vụ chăn nuôi chậm hình thành và chưa phát triển, do đó chưa thực sự tạo ra động lực thúc đẩy cho chăn nuôi phát triển.

- Công tắc quản lý kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vệ sinh thú y chưa được chặt chẻ.

- Sự phối kết hợp giữa các phòng ban và tổ chức đoàn thể với đơn vị chuyên môn chưa nhịp nhàng nên kết quả một số mô hình trình diễn đang dừng lại trong phạm vi mô hình mà chưa được nhân rộng trên địa bàn.

- Thị trường tiêu thụ không ổn định, giá thức ăn tăng cao nên ảnh hưởng rất lớn  đến việc đầu tư, mở rộng quy mô chăn nuôi.

- Công tác tuyên truyền về cơ chế, chủ trương, chính sách và tình hình dịch bệnh còn hạn chế.

- Kinh phí đầu tư của Nhà nước theo đề án chưa đảm bảo, có một số hạng mục chưa được đầu tư.

 

II. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIAI ĐOẠN 2011 - 2015

1. Phương hướng:

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX là “Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, trong đó đẩy mạnh phát triển chăn nuôi phát triển kinh tế trang trại, trồng rừng kinh tế là những mủi kinh tế quan trọng”, trong thời gian tới các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các phòng ban chức năng, các tổ chức đoàn thể cần phải:

- Nhân rộng các mô hình chăn nuôi hiệu quả.

- Mỗi xã, thị trấn ít nhất phải có 02 trang trại chăn nuôi mới.

- Hỗ trợ thiến bò đực cóc, cải tạo giống bò, lợn và gia cầm chất lượng cao.

- Tập trung đẩy mạnh công tác quy hoạch, khuyến khích đầu tư có trọng điểm  để phát triển và hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa nhằm đảm bảo tiêu thụ trên địa bàn và các vùng lân cận.

- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng chăn nuôi tập trung, phát triển trang trại, gia trại chăn nuôi, xây dựng chuồng trại kiên cố, áp dụng chăn nuôi theo hướng thâm canh, chăn nuôi công nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm vật nuôi.

- Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, khuyến khích các hộ gia đình cá nhân tập thể phát triển trang trại, chăn nuôi lợn giống thuần ngoại nhằm cung ứng con giống tại chổ, chất lượng tốt.

- Phát triển chăn nuôi gắn liền với xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh nhằm bảo vệ tốt đàn gia súc, gia cầm và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Xúc tiến đầu tư thương mại, liên doanh, liên kết, kêu gọi khuyến khích đầu tư cơ sở chế biến thịt đóng hộp trên địa bàn, tìm kiếm thị trường nhằm giải quyết tốt đầu ra ổn định cho các sản phẩm chăn nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có điều kiện và kinh nghiệm để đầu tư xây dựng một số trang trại chăn nuôi trên địa bàn theo mô hình trang trại chăn nuôi công nghiệp.

- Tập trung phát triển trồng cỏ chăn nuôi, chuyển một số đất màu kém hiệu quả sang trồng cỏ nhằm từng bước chuyển từ chăn nuôi theo hình thức chăn thả sang nuôi tập trung. Thành lập cơ sở chế biến thức ăn gia súc, gia cầm nhằm đáp ứng lượng thức ăn tinh cho đàn gia súc, gia cầm.

2. Mục tiêu đến năm 2015:

Phấn đấu đến năm 2015 giá trị sản xuất nông nghiệp: 97,70 tỷ đồng trong đó  giá trị chăn nuôi: 48,80 tỷ đồng chiếm 48 - 50% giá trị sản xuất nông nghiệp, đưa tổng đàn gia súc lên 75.000 con và tập trung phát triển trang trại.

Trong đó:    

- Đàn trâu, bò : 25.300 con.

- Đàn lợn :       45.000 con

- Đàn dê :         4.700 con.

- Đàn gia cầm : 215.000 con.

- Trang trại chăn nuôi: 46 trang trại.

- Trồng cỏ : 320 ha

3. Nhiệm vụ:

Trên cơ sở xem xét về tiềm năng và thế mạnh, cũng như truyền thống của từng địa phương, từng vùng. Huyện sẽ chú trọng đầu tư phát triển các đối tượng nuôi phù hợp:

Cụ thể: mỗi xã phải quy hoạch được vùng chăn nuôi phù hợp với tập quán chăn nuôi của người dân, khuyên khích các hộ dân phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại.

a. Chăn nuôi trâu bò:

- Có kế hoạch, quy hoạch, khai thác và phát huy tốt ưu thế của vùng gò đồi. Đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc, chuyển từ nuôi bò cày kéo sang nuôi thương phẩm. - Thực hiện Sind hóa đàn bò đạt 20% tổng đàn nhằm nâng cao tầm vóc, trọng lượng từ 180 - 200 kg như hiện nay lên 250 - 280 kg/con.

- Phát triển và mở rộng các điểm dịch vụ thụ tinh nhân tạo bò bằng tinh của đực giống Sind và bò nhập nội. Hiện nay đã có 3 điểm thụ tinh nhân tạo ở Tiến Hóa, Đức Hóa, Sơn Hóa kế hoạch sẻ mở thêm các điểm tại xã Phong Hóa, Thạch Hóa, Kim Hóa, Văn Hóa…

- Từng bước tuyển chọn và đưa vào sử dụng đàn bò cái lai Sind 50% máu ngoại, để thay thế đàn bò cái địa phương.

- Thực hiện tốt chương trình thiến bò đực cóc.

- Đào tạo tập huấn, tham quan nâng cao trình độ kiến thức chăn nuôi bò lai cho 2.000 lượt người, bình quân 400 lượt người/ năm.

- Về thức ăn: Tăng cường hướng dẫn kỹ thuật cho bà con nông dân ủ rơm, ủ chua, ủ xanh thức ăn, để tận dụng hết các nguồn phụ phẩm nông sản như rơm, thân ngô, thân lạc…Khuyến khích hỗ trợ nông dân chuyển đổi một số diện tích các loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng cỏ. Kế hoạch đến 2015 sẻ trồng được 320 ha cỏ để chăn nuôi trâu, bò.

- Có chính sách khuyến khích chăn nuôi trâu, bò theo quy mô trang trại, phấn đấu, đến năm 2015 toàn huyện có khoãng 15 - 20 trang trại nuôi trâu, bò thịt thương phẩm với quy mô từ 20 con trở lên.

 b. Chăn nuôi lợn:

 - Phát triển chăn nuôi lợn theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hoá; thực hiện nạc hoá đàn lợn bằng việc phát triển đàn lợn nái ngoại, tăng cư­ờng công tác thụ tinh nhân tạo tuyển chọn và thay thế lợn đực giống ngoại để cung cấp nguồn giống lợn ngoại tại chổ, có tỷ lệ nạc cao, tầm vóc, trọng lượng lớn. Phấn đấu đến năm 2015 có trên 650 con lợn nái 100% máu ngoại, tỷ lệ lợn 100% máu ngoại nuôi thịt chiếm 50%, đảm bảo đàn lợn được nạc hoá 100% tổng đàn.

- Khuyến khích nhân dân chăn nuôi lợn nái ngoại nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hóa sản xuất, nhân giống lợn ngoại nuôi thịt thương phẩm theo quy mô hàng hóa.

- Có chính sách khuyến khích chăn nuôi lợn theo quy mô trang trại, phấn đấu, đến năm 2015 toàn huyện có khoãng 23 - 27 trang trại với quy mô từ 100 con trở lên đối với lợn thịt và 20 con trở lên đối với lợn nái.

c. Đối với chăn nuôi gia cầm:

 - Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là ngăn chặn bệnh  cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn, tiếp tục xây dựng, khôi phục các trang trại chăn nuôi gia cầm theo hướng lấy thịt và trứng trên quy mô lớn, nhằm tăng  thu nhập và cải thiện bửa ăn cho nông dân và làm hàng hoá cung cấp cho thị trư­ờng. Chuyển giao  kỷ thuật chăm sóc các giống gia cầm như­: gà Lương Phượng, gà Kbia, gà Ai cập, gà sao, Ngan Pháp, Vịt siêu thịt, Chim cút... đồng thời sử dụng gà trống của các đàn gà nói trên để cải tạo đàn gà địa phương.

- Có chính sách khuyến khích chăn nuôi gia cầm theo quy mô trang trại, phấn đấu, đến năm 2015 toàn huyện có khoãng 7 - 10 trang trại với quy mô từ 2.000 con trở lên.

d. Chăn nuôi Dê:

- Tiếp tục phát triển mạnh chăn nuôi dê thịt, tận dụng hàng ngàn ha cây bụi, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân.

Đưa các đực giống Dê Bách Thảo có tầm vóc, thể trọng lớn về cho lai tạo. Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ đàn Dê Bách Thảo đạt 70% tổng đàn nhằm  cải tạo dần đàn dê địa phương.

đ. Chăn nuôi các loại vật nuôi có giá trị kinh tế cao:

Nghiên cứu di nhập các loại vật nuôi kinh tế như: Nuôi lợn rừng, hươu, nuôi nhím, nuôi thỏ, nuôi cầy hương, nuôi dúi, gà sao... và đầu tư xây dựng các mô hình trình diễn tổ chức cho người dân tham quan, học tập các mô hình điển hình để nhân rộng trên địa bàn. Phấn đấu đến năm 2015 toàn huyện có khoảng 5 mô hình chăn nuôi đặc sản quy mô; từng bước đáp ứng nhu cầu trên địa bàn và các khu vực lân cận.

4. Các giải pháp thực hiện:

a. Giải pháp về kỹ thuật:

*  Công tác giống:

+ Chăn nuôi trâu, bò :

- Hỗ trợ đào tạo dẩn tinh viên và kỹ thuật thiến bò đực cóc cho các xã, thị trấn đảm bảo cân đối giữa các vùng để triển khai công tác thụ tinh nhân tạo bò, và thiến bò đực cóc trên địa bàn huyện.

- Thực hiện tốt công tác công tác thụ tinh nhân tạo bò.

- Hỗ trợ mua đực giống lai Sind (30 con) cho các xã chưa triển khai được chương trình thụ tinh nhân tạo bò.

- Tuyển chọn đàn bò cái lai Sind, để thay thế đàn bò cái địa phương.

- Triển khai thiến toàn bộ bò đực cóc không đủ tiêu chuẩn làm giống để tránh lai tạp.

+ Chăn nuôi lợn :

- Khuyến khích, đầu tư cho nhân dân chăn nuôi lợn nái 100% máu ngoại, lợn nái lai F1 - F2, nái Móng cái, phấn đấu đến 2015 toàn huyện có khoãng 1.500 lợn nái, trong đó : có 650 lợn nái 100% máu ngoại. Cơ bản đáp ứng được nguồn giống trên địa bàn.

- Hỗ trợ mua lợn đực (40 con); lợn nái (650 con) 100% máu ngoại chất lượng tốt cho các xã, thị trấn để cải tạo đàn lợn trên địa bàn.

+ Chăn nuôi gia cầm:

- Đưa một số giống có chất lượng cao như gà sao, Đà điểu vào nuôi thí điểm.

+ Chăn nuôi Dê:

- Duy trì và phát triển giống dê hiện có tại điạ phương, có khả năng chống chịu tốt, thích nghi với khí hậu thời tiết.

Hỗ trợ mua dê đực giống Bách thảo (20 con) vào nuôi để lai tạo, từng bước phát triển đàn dê lai nhằm tăng thể trọng, tầm vóc, đem lại hiệu quả cao cho người nuôi.

* Thức ăn:

- Hướng dẩn kỹ thuật cho bà con nông dân ủ rơm, ủ chua, ủ xanh thức ăn để các hộ tận dụng hết các nguồn phụ phẩm nông sản tại chổ như rơm, rạ, thân cây ngô, lạc…làm thức ăn dự trữ cho trâu, bò về mùa Đông.

- Hỗ trợ nông dân chuyển đổi một số diện tích các loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng cỏ, kế hoạch đến 2015 sẻ trồng được 320 ha cỏ để chăn nuôi trâu, bò.

- Xây dựng cơ sở chế biến thức ăn tại chổ để giảm cước phí vận chuyển và giảm giá thành sản phẩm.

- Tăng cường sản xuất cây vụ đông để giải quyết thức ăn cho chăn nuôi trâu, bò.

* Công tác thú y:

- Tuyền truyền hướng dẩn nông dân xây dựng chuồng trại hợp lý, đảm bảo vệ sinh thú y. Tổ chức tiêm phòng định kỳ, phun thuốc tiêu độc khử trùng nhằm hạn chế dịch bệnh xảy ra và lây lan.

- Thực hiện tốt công tác kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y. Từng bước đưa lò giết mổ Đồng Lê vào hoạt động; xây dựng lò mổ gia súc tập trung ở một số địa phương có số lượng gia súc giết mổ nhiều để kiểm soát dịch bệnh, ngăn ngừa lây lan, đồng thời đảm bảo vệ sinh môi trường.

-  Xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh tại những vùng chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung.

- Có kế hoạch đào tạo, bồ dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ thú y cơ sở và có chế độ đãi ngộ phù hợp nhằm gắn trách nhiệm cũng như tạo điều kiện để họ an tâm công tác.

* Công tác khuyến nông:

- Tổ chức tập huấn kỹ thuật, thăm quan các mô hình có hiệu quả về chăn nuôi bò lai, lợn ngoại, vỗ béo bò, nuôi lợn nái …cho cán bộ khuyến nông và bà con nông dân sản xuất giỏi.

- Xây dựng các mô hình chăn nuôi lợn nái, lợn thịt 100% máu ngoại tập trung, mô hình trồng cỏ chăn nuôi bò thịt để bà con tham quan học tập.

- Cấp uỷ Đảng chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, các phòng ban chức năng tuyên truyền, nhân rộng các mô hình chăn nuôi có hiệu quả trong thời gian qua.

b. Giải pháp về chính sách :

* Chính sách con giống:

- Hỗ trợ mua lợn nái 100% ngoại với quy mô 5 con trở lên với mức 800.000đ/con, lợn đực giống 100% máu ngoại 2.000.000đ/con, bò đực giống lai Sind 12.000.000đ/con, dê đực giống Bách thảo 3.000.000đ/con

- Hỗ trợ cải tạo đàn bò bằng 2 phương pháp là nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo: Hỗ trợ tiền công phối giống và vật tư với mức 170.000/ 01 con bê lai ra đời đến năm 2015; Hỗ trợ tiền công thiến bò đực cóc với mức 50.000đ/ con đồng thời hỗ trợ cho các hộ có bò đực thiến 100.000đ/con để khuyến khích các hộ tham gia chương trình trong năm 2011 và những năm tiếp theo.

- Hỗ trợ cho các hộ nuôi lợn nái 100% ngoại với quy mô 3 con trở lên với mức 300.000đ/con

- Hỗ trợ nuôi lợn siêu nạc (đàn 30 con trở lên/hộ, con nhỏ nhất trên 15 kg) : 1.000.000đ/ hộ.

- Hỗ trợ chăn nuôi trâu, bò (đàn 15 con trở lên/hộ, con nhỏ nhất trên 50kg, không thả rong): 200.000đ/ con, đối với bò lai Sind 400.000đ/con.

- Hỗ trợ chăn nuôi Dê (Giống Dê Bách thảo; đàn 15 con trở lên/hộ; con nhỏ nhất 10 kg) là: 1.000.000/con 

* Chính sách về công tác thú y phòng chống dịch bệnh:

- Tiếp tục hỗ trợ vaccin để tiêm phòng các bệnh truyền nhiểm nguy hiểm cho gia súc, gia cầm, tiền công do dân tự trả.

- Có chính sách đào tạo kỹ thuật cho cán bộ làm công tác Thú y cơ sở, đảm bảo 100% cán bộ phụ trách công tác Thú y xã, thị trấn có trình độ trung cấp Thú y trở lên.

- Khi có dịch bệnh xảy ra phải tập trung bao vây khống chế dịch bệnh không để lây lan. Hỗ trợ công tác chống dịch và tiêu hủy gia súc, gia cầm bị nhiểm bệnh theo chính sách của Nhà Nước.      

* Chính sách về đất đai:

- Trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất UBND các xã, Thị trấn bố trí một phần diện tích vùng gò đồi, diện tích trồng cây nông nghiệp hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cỏ và cho người dân đăng ký để xây dựng trang trại phát triển chăn nuôi.

- Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đường giao thông, đường điện đến khu vực chăn nuôi. 

* Chính sách về tín dụng:

- UBND huyện có nguồn kinh phí để đầu tư hàng năm trong quá trình thực hiện Đề án. Việc quy hoạch vùng chăn nuôi, phát triển các trang trại chăn nuôi tập trung đòi hỏi vốn lớn, do vậy cần có chính sách vay vốn ưu đải để giúp các hộ gia đình phát triển chăn nuôi, xây dựng cơ sở chế biến thức ăn gia súc, giết mổ, chế biến sản phẩm chăn nuôi.

* Chính sách chế biến, tiêu thụ sản phẩm:

Quy hoạch địa điểm xây dựng nhà máy chế biến thịt đóng hộp tại xã Sơn Hóa và kêu gọi, khuyến khích các nhà đầu tư vào trên địa bàn huyện. Mở rộng tìm kiếm thị trường trong và ngoài nước, xây dựng chợ bán trâu, bò nhằm giải quyết đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi.

* Chính sách khen thưởng:

- Để khuyến khích động viên kịp thời cho nhân dân trong công tác phát triển chăn nuôi, hàng năm huyện tổ chức hội nghị tổng kết chăn nuôi, biểu dương khen thưởng những cá nhân tiêu biểu; đồng thời có phương án điều chỉnh kế hoạch, quy hoạch phát triển chăn nuôi  hàng năm sát thực và khả thi hơn.

 

III. HIỆU QUẢN KINH TẾ - XÃ HỘI

1 . Hiệu quả kinh tế:

* Ước tính từ hiệu quả chương trình cải tạo đàn bò :

Kết quả dự tính đến năm 2015 sẻ lai tạo được 5.000 con bò lai Sind. mỗi bò lai có giá trị cao hơn bò nội cùng tuổi khoảng 3 triệu đồng :

5.000 con x 3.000.000đ/ con = 15.000.000.000đ.

Bên cạnh đó số bò đực giống mua về thời gian sử dụng còn 5 - 6 năm sau vẫn tiếp tục lai tạo.

* Hiệu quả từ chương trình nạc hoá đàn lợn :  

Sau 5 năm triển khai số lợn nái thuần ngoại 650 nái, thời gian sử dụng là 5 năm; năm đầu dự tính đẻ 01 lứa nái 10 con/ lứa; những năm sau trung bình 2,2 lứa/năm, bình quân 10 con/lứa/nái). Dự tính đến năm 2015, sẻ cung ứng khoảng 57.000 con lợn giống 100% máu ngoại để nuôi thịt, ước tính hiệu quả nuôi lợn100% máu ngoại lải cao hơn lợn F1 là 120.000đ/ con

57.000 con  x 120.000đ/ con = 6.840.000.000đ.

2. Hiệu quả xã hội:

Sau 5 năm thực hiện, đến năm 2015, ngành chăn nuôi của huyện đã hình thành được vùng sản xuất hàng hóa, cơ bản chủ động nguồn giống chăn nuôi trên địa bàn.

Thay đổi dần tập quán chăn nuôi của người dân, chuyển từ chăn nuôi theo lối quảng canh sang thâm canh, đầu tư áp dụng tiến bộ KHKT, xây dựng và áp dụng quy trình nuôi bền vững, khép kín, tận dụng nguồn phân bón cho sản xuất nông nghiệp và làm BIOGA cung cấp nguồn chất đốt để giảm thiểu ô nhiểm môi trường.

Tạo ra những mô hình, điển hình để nông dân học tập. Phát triển mạnh hơn chăn nuôi với nhiều hình thức và quy mô khác nhau, nhằm phù hợp với điều kiện của từng vùng.

Giải quyết việc làm cho nông dân, tăng thu nhập, góp phần đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện.

Nguồn trang TT Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Bình

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 7479

  • Tổng 10.299.477