Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
Các hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe sanh (1926-2026)” trong khuôn khổ Lễ hội vì hoà bình năm 2026
I. HÀNH TRÌNH 100 NĂM CÀ PHÊ KHE SANH - TỪ NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN ĐẾN KHẲNG ĐỊNH GIÁ TRỊ
1. Cà phê đến với Khe Sanh - khởi đầu một hành trình trăm năm
Cây cà phê được đưa vào Khe Sanh từ năm 1926, gắn với quá trình khảo sát, nghiên cứu và đưa các giống cây trồng mới vào vùng đất này. Theo các tài liệu được dẫn, Eugène Poilane - một quân nhân người Pháp, đồng thời là nhà thực vật học - là người có vai trò khởi xướng việc đưa cây cà phê vào Khe Sanh. Năm 1918, Poilane lần đầu đi qua khu vực Khe Sanh và nhận thấy điều kiện đất đai phù hợp với cây cà phê; đến năm 1926, ông trở lại Khe Sanh, đưa giống cà phê vào trồng và hình thành đồn điền cà phê đầu tiên tại đây.
Những giống cà phê đầu tiên được trồng gồm cà phê chè Arabica-Typica, Bou bou và cà phê mít (Coffea Excelsa). Trong đó, Typica và Bou bou sinh trưởng khá tốt, chất lượng quả cao nhưng bị bệnh gỉ sắt gây hại nặng; cà phê mít được duy trì trồng tại một số đồn điền. Do phương thức canh tác còn đơn giản, mang tính quảng canh, năng suất cà phê thời kỳ này thấp; phương pháp chế biến chủ yếu là phơi khô cả quả rồi bảo quản.
Đồn điền Mụ Rôm và các đồn điền cà phê ở Khe Sanh thời kỳ đầu là nơi gieo trồng những hạt giống đầu tiên, đặt nền móng cho quá trình hình thành thủ phủ cây cà phê ở Quảng Trị. Đồn Mụ Rôm đồng thời là nơi ghi dấu phong trào đấu tranh của công nhân và là nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Hướng Hóa. Di tích được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định số 707/QĐ-UB ngày 12/7/1996 của UBND tỉnh.
Sau năm 1975, quá trình khôi phục và phát triển cà phê từng bước được đẩy mạnh. Năm 1978, Nông trường Cà phê Khe Sanh được thành lập; giống cà phê chè Arabica Caturra được đưa vào trồng thử nghiệm với diện tích 17,2 ha. Tuy nhiên, do bệnh gỉ sắt và năng suất không ổn định, giống Caturra không được duy trì lâu dài. Từ năm 1990, một số giống cà phê chè như Catuoai, Catimor, 1602 được đưa vào khảo nghiệm. Trong đó, Catimor cho thấy khả năng thích nghi, chống chịu bệnh gỉ sắt, năng suất tương đối ổn định và chất lượng tốt. Năm 1992, diện tích trồng mới cà phê chè Catimor tiếp tục được mở rộng 11,30 ha, từng bước thay thế các giống cà phê vối, cà phê mít.
Từ năm 1995 đến nay, cà phê chè Catimor được đầu tư phát triển mạnh, có thời điểm diện tích lên gần 5.000 ha. Hiện nay, vùng cà phê còn hơn 4.000 ha, trong đó hơn 3.700 ha cho sản phẩm, tập trung tại các xã Hướng Phùng, Tân Lập, A Dơi, Khe Sanh; sản lượng đạt gần 5.000 tấn cà phê nhân/năm. Việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, góp phần hình thành và khẳng định thương hiệu cà phê Khe Sanh.
2. Bước ngoặt trong hành trình phục hồi và phát triển cà phê Khe Sanh
Dấu mốc quan trọng trong quá trình phục hồi, phát triển cà phê Khe Sanh gắn với Nông trường Tân Lâm - đơn vị quốc doanh đầu tiên của Nhà nước được thành lập tại Quảng Trị ngày 20/8/1974. Những ngày đầu, ông Lê Mậu Lộ - lúc bấy giờ là Giám đốc Nông trường Lệ Ninh, Quảng Bình - cùng 42 cán bộ, công nhân, trong đó có 41 nam và một nữ, nhận nhiệm vụ vào Quảng Trị xây dựng nông trường. Thời điểm đó, địa bàn sản xuất rộng trên 20.000 ha, còn nhiều bom mìn sau chiến tranh; nông trường tập trung phát triển hồ tiêu, dứa kết hợp chăn nuôi bò, theo theo hướng tận dụng nguồn phân hữu cơ, hình thành mô hình sản xuất nông nghiệp khép kín.
Đến những năm 1990, trong quá trình chuyển đổi theo cơ chế kinh tế mới, Nông trường Tân Lâm được đổi tên thành Công ty Cổ phần Nông sản Tân Lâm. Ông Trần Ngọc Bữu làm Giám đốc, ông Trần Đoàn làm Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh và ông Nguyễn Văn Thiết làm Trưởng phòng Kế hoạch.
Đây cũng là giai đoạn giống cà phê Catimor được đưa vào Quảng Trị với sự hỗ trợ của Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), thông qua Tiến sĩ Hoàng Thanh Tiệm và Thạc sĩ Lê Ngọc Báu. Dòng Catimor F5 khi đó có khả năng thích nghi tốt, chống chịu bệnh gỉ sắt, tạo tiền đề quan trọng cho việc phục hồi và phát triển cà phê Arabica tại Khe Sanh.
Cùng với yếu tố giống, việc tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật từ dự án GTZ của Đức, nay là GIZ, đã góp phần nâng cao năng lực sản xuất và mở rộng kết nối thị trường. Thông qua dự án, Tân Lâm được kết nối với các tập đoàn rang xay lớn tại châu Âu như Kraft Food - CHLB Đức, Dowerbert (nay là JDE) - Hà Lan và các nhà thương mại như Neumann, Talaco, Noble…, qua đó đưa những container cà phê chè Việt Nam đầu tiên tiếp cận thị trường thế giới.
Những yếu tố về giống, khoa học kỹ thuật, tổ chức sản xuất và kết nối thị trường đã tạo bước ngoặt quan trọng, góp phần đặt nền móng cho quá trình phục hồi và phát triển cà phê Khe Sanh theo hướng hàng hóa và từng bước hội nhập thị trường quốc tế.
3. Cà phê - cây sinh kế của người dân Hướng Hóa
Sau gần một thế kỷ hình thành và phát triển, cây cà phê đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của người dân vùng phía Tây Quảng Trị, đặc biệt là Hướng Hóa. Theo thông tin cập nhật năm 2026, vùng cà phê Khe Sanh có trên 8.620 hộ dân gắn bó với cây cà phê, trong đó hơn một nửa là đồng bào Bru - Vân Kiều và Pa Kô.
Đối với nhiều hộ gia đình, vườn cà phê là nguồn thu nhập quan trọng, tạo việc làm tại chỗ và góp phần ổn định đời sống. Từ chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đến thu hái, sơ chế, bảo quản, chế biến và tiêu thụ, cây cà phê tạo việc làm cho người dân trong nhiều thời điểm trong năm, đặc biệt vào mùa thu hoạch.
Đối với các hộ sản xuất quy mô nhỏ, cây cà phê còn góp phần duy trì sinh kế nông nghiệp, sử dụng hiệu quả đất đai và hình thành kinh nghiệm sản xuất qua nhiều thế hệ. Nhiều gia đình từng bước đầu tư cải tạo, thâm canh, tái canh những diện tích già cỗi, gắn bó lâu dài với vườn cà phê.
Cùng với người trồng cà phê là đội ngũ lao động thu hái, thương lái, cơ sở sơ chế, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, cơ sở rang xay và các đơn vị kinh doanh, từng bước hình thành hệ sinh thái việc làm và dịch vụ gắn với ngành hàng cà phê.
Đặc biệt, quá trình phát triển của cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản mở ra cơ hội nâng cao thu nhập cho người sản xuất thông qua nâng cao chất lượng nguyên liệu, thu hái quả chín, sơ chế phù hợp và tham gia các chuỗi liên kết. Những đồi cà phê, mùa hoa, mùa thu hoạch và câu chuyện về người trồng cà phê cũng góp phần tạo nên bản sắc kinh tế, văn hóa riêng của vùng Khe Sanh, là nền tảng để gắn phát triển cà phê với văn hóa và du lịch.
Trong thời gian tới, khi ngành hàng chuyển mạnh sang phát triển cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản, sản xuất xanh, hữu cơ, giảm phát thải và liên kết chuỗi, sinh kế của người dân cũng cần được đặt ở vị trí trung tâm. Mục tiêu cuối cùng của việc nâng cao chất lượng và giá trị cà phê không chỉ là xây dựng thương hiệu mà phải tạo ra giá trị thực sự cho người trồng, giúp người dân có thu nhập ổn định hơn, đời sống được nâng cao và yên tâm gắn bó lâu dài với vùng cà phê.
4. Điều kiện tự nhiên - nền tảng tạo nên hương vị Khe Sanh
Một trong những giá trị đặc trưng của cà phê Khe Sanh được hình thành từ sự kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và quá trình canh tác, chế biến của con người. Đất đai, địa hình, độ cao, khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm và chế độ mưa tạo nên nền tảng sinh thái cho cây cà phê sinh trưởng và góp phần hình thành những đặc tính riêng của sản phẩm.
Đất đỏ bazan là một trong những lợi thế tự nhiên quan trọng của vùng cà phê Khe Sanh. Bên cạnh đó, vùng sản xuất cà phê nằm ở độ cao khoảng 450-680 m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình khoảng 20-23°C. Điều kiện khí hậu tương đối mát, cùng sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và tích lũy các hợp chất trong quả cà phê. Biên độ nhiệt ngày - đêm trung bình khoảng 7-10°C là một trong những đặc điểm đáng chú ý của vùng. Độ ẩm tương đối cao, thường xuyên xuất hiện sương mù, cùng chế độ mưa và địa hình đặc thù của khu vực phía Tây Trường Sơn cũng góp phần hình thành hệ sinh thái riêng của vùng trồng cà phê Khe Sanh.
Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên chỉ tạo nền tảng; chất lượng cà phê còn phụ thuộc vào giống, tuổi vườn, điều kiện chăm sóc, dinh dưỡng, quản lý nước, phòng trừ sâu bệnh, thời điểm thu hái và phương pháp sơ chế sau thu hoạch. Đối với cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản, việc thu hái quả chín, lựa chọn nguyên liệu và áp dụng phương pháp sơ chế phù hợp như chế biến ướt, chế biến khô, honey… có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng hạt và đặc tính hương vị.
Sự giao hòa giữa điều kiện tự nhiên và bàn tay con người đã tạo nên bản sắc của cà phê Khe Sanh - sản phẩm mang dấu ấn của vùng đất phía Tây Trường Sơn và kết tinh từ quá trình thích nghi, sản xuất, chọn lọc và gìn giữ qua 100 năm.
5. Danh tiếng cà phê Khe Sanh từng bước được khẳng định
Khe Sanh là địa danh gắn với cây cà phê gần 100 năm. Cùng với quá trình hình thành và mở rộng vùng sản xuất, cà phê Khe Sanh ngày càng được biết đến qua nhiều sản phẩm, nhãn hàng và thương hiệu của các hợp tác xã, doanh nghiệp trên địa bàn.
Nhiều sản phẩm cà phê Khe Sanh đã được công nhận OCOP. Tiêu biểu, Hợp tác xã Nông sản Khe Sanh có sản phẩm Khe Sanh coffee (100% cà phê bột Arabica) đạt OCOP 5 sao; các sản phẩm Khe Sanh coffee (cà phê hạt rang), cà phê muối hòa tan, cà phê nấm linh chi hòa tan, cà phê sữa đá 3 in 1 hòa tan đạt OCOP 4 sao. Sản phẩm Bốn Phương coffee của Hợp tác xã Nông nghiệp sinh thái Bốn Phương đạt OCOP 3 sao.
Năm 2019, cà phê Khe Sanh được Trung tâm Top Việt Nam (VietTop) đề cử vào Top đặc sản Việt Nam. Năm 2021, các mẫu cà phê Arabica Khe Sanh lần đầu tham gia cuộc thi “Cà phê đặc sản Việt Nam” (do Hiệp hội cà phê Buôn Mê Thuột tổ chức); một mẫu chế biến Natural đạt giải Nhất, một mẫu đạt giải Nhì và một mẫu chế biến Honey đạt tiêu chuẩn cà phê đặc sản Việt Nam.
Năm 2022, mẫu cà phê Arabica Khe Sanh của Pun Coffee tham gia cuộc thi “Coffee Roasted at the Origin” (do tổ chức AVPA của Pháp tổ chức), vượt qua gần 200 loại cà phê đặc sản của 25 quốc gia, đoạt giải Bạc đối với dòng chế biến Espresso và giải Khuyến khích đối với dòng Unfiltered Infusion.
Trong các năm 2023, 2024 và 2025, các sản phẩm cà phê Arabica Khe Sanh của doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia cuộc thi Cà phê đặc sản Việt Nam và đều có mẫu nằm trong nhóm đạt giải; trong đó có mẫu đạt giải Nhất. Năm 2023, cà phê Khe Sanh lọt Top 5 cà phê đặc sản thế giới.
Tháng 12/2021, sau hơn hai năm đàm phán, Công ty TL Group LLC của Hoa Kỳ ký hợp đồng độc quyền phân phối 2 tấn cà phê Arabica Khe Sanh do Công ty TNHH Pun Coffee cung cấp, mở ra cơ hội tiếp cận thị trường Hoa Kỳ.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã như Công ty TNHH Pun Coffee, Hợp tác xã Nông nghiệp sinh thái hữu cơ Chân Mây, Hợp tác xã Nông sản Khe Sanh… đang liên kết với các tổ hợp tác, nhóm hộ nông dân tại Hướng Phùng, Khe Sanh và các địa bàn liên quan để phát triển cà phê theo hướng chất lượng cao, cà phê đặc sản.
6. Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh” - một dấu mốc quan trọng
Một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt trong hành trình 100 năm cà phê Khe Sanh là việc sản phẩm được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh”. Đây là sự ghi nhận về mặt sở hữu trí tuệ, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ danh tiếng, nguồn gốc và phát triển thương hiệu cà phê gắn với vùng đất Khe Sanh.
Ngày 04/11/2025, Cục Sở hữu trí tuệ ban hành Quyết định số 699/QĐ-SHTT, cấp Giấy chứng nhận đăng ký Chỉ dẫn địa lý số 00148 cho sản phẩm cà phê Khe Sanh. Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ đối với sản phẩm cà phê Arabica Khe Sanh ở các dạng cà phê nhân, cà phê hạt rang và cà phê bột. Theo quy định về quản lý Chỉ dẫn địa lý, UBND xã Khe Sanh là tổ chức quản lý Chỉ dẫn địa lý.
Việc bảo hộ Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh” tạo cơ sở để quản lý nguồn gốc, chất lượng và việc sử dụng tên gọi Khe Sanh trong sản xuất, chế biến, kinh doanh cà phê; đồng thời góp phần hạn chế việc sử dụng tên gọi “Khe Sanh” đối với những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu theo quy định.
Điểm quan trọng của Chỉ dẫn địa lý là gắn tên địa danh với chất lượng, danh tiếng và đặc tính của sản phẩm. Qua đó, “Khe Sanh” không chỉ là tên một vùng đất mà từng bước trở thành dấu hiệu nhận diện của sản phẩm cà phê có nguồn gốc địa lý xác định.
Từ góc độ phát triển kinh tế, Chỉ dẫn địa lý tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm chất lượng cao, cà phê đặc sản và tiếp cận những phân khúc thị trường có giá trị gia tăng cao hơn. Tuy nhiên, việc được cấp Chỉ dẫn địa lý mới là bước khởi đầu; giá trị của Chỉ dẫn địa lý chỉ được phát huy khi vùng sản xuất duy trì chất lượng ổn định, kiểm soát tốt nguồn gốc, người sản xuất tuân thủ quy trình và việc sử dụng tên gọi được quản lý thống nhất.
Do đó, trong thời gian tới cần quan tâm xây dựng và phát triển chuỗi giá trị cà phê Khe Sanh gắn với Chỉ dẫn địa lý, trong đó người nông dân là chủ thể của vùng nguyên liệu, hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất, doanh nghiệp giữ vai trò chế biến và thị trường, còn cơ quan quản lý nhà nước hỗ trợ về tiêu chuẩn, chất lượng, sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc và quảng bá thương hiệu.
Đặc biệt, Chỉ dẫn địa lý cần được gắn với các định hướng phát triển mới như sản xuất bền vững, sản xuất xanh, hữu cơ, giảm phát thải, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Khi đó, giá trị của “Khe Sanh” không chỉ dừng lại ở một dấu hiệu địa lý mà có thể trở thành một tài sản thương hiệu của cả vùng, góp phần nâng cao vị thế của cà phê Quảng Trị.
7. Cà phê Khe Sanh - Hương vị Hòa bình
Khe Sanh hôm nay được biết đến không chỉ bởi những triền cà phê Arabica trên đất đỏ bazan mà còn bởi câu chuyện về sự hồi sinh của một vùng đất từng trải qua chiến tranh ác liệt. Từ những vùng đất từng chịu bom đạn, cây cà phê đã bén rễ, phát triển và trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của người dân Hướng Hóa.
Sau ngày đất nước thống nhất, quá trình khôi phục vùng cà phê được tiếp nối, trong đó việc thành lập Nông trường Cà phê Khe Sanh năm 1978 là một dấu mốc quan trọng. Đến nay, vùng cà phê Arabica rộng hơn 4.000 ha đã phủ xanh nhiều địa bàn, hình thành vùng nguyên liệu của thương hiệu cà phê Khe Sanh.
Câu chuyện về cà phê Khe Sanh còn được viết nên từ đôi tay của những người trồng và chế biến cà phê. Tại Hợp tác xã Nông nghiệp sinh thái Bốn Phương ở Hướng Phùng, những quả cà phê chín được thu hái, lên men, sơ chế và rang xay theo quy trình riêng để phát huy hương vị Arabica Khe Sanh. Theo ông Nguyễn Duy Phương, Giám đốc Hợp tác xã: “Mỗi hạt cà phê Khe Sanh mang trong mình câu chuyện của đất đỏ bazan, khí hậu Trường Sơn và ý chí vượt qua chiến tranh của con người nơi đây”.
Sau đúng một thế kỷ bén rễ trên đất đỏ Khe Sanh, Arabica nơi đây có thêm “tấm hộ chiếu’ của riêng mình khi được cấp Chỉ dẫn địa lý năm 2025. Không chỉ mở rộng cánh cửa đến thị trường thế giới, dấu mốc ấy còn ghi nhận hành trình một thế kỷ gìn giữ giống cà phê đã đi qua chiến tranh để trở thành biểu tượng của sức sống và hòa bình.
Từ những vùng đất từng là tọa độ lửa, hôm nay du khách có thể tìm hiểu hành trình hồi sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm cà phê, trong đó có tour “Make coffee, not war” (Làm cà phê, không làm chiến tranh): tự tay hái quả, rang xay, thưởng thức cà phê cùng đồng bào Bru - Vân Kiều, Pa Kô và nghe câu chuyện về vùng đất đã lựa chọn màu xanh của sự sống thay cho đổ nát của chiến tranh.
Cà phê vì thế không chỉ là một sản phẩm nông nghiệp mà còn có thể trở thành một cách kể về hòa bình: từ vùng đất từng được biết đến bởi chiến tranh, Khe Sanh hôm nay được nhớ đến bằng màu xanh của những đồi cà phê, bằng hương vị Arabica và bằng câu chuyện về sức sống, sự hồi sinh và khát vọng hòa bình.
II. NHỮNG THÁCH THỨC VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÀ PHÊ KHE SANH TRONG THỜI KỲ MỚI
1. Những thách thức đặt ra trong giai đoạn mới
Sau 100 năm hình thành và phát triển, cà phê Khe Sanh đã có những nền tảng quan trọng để trở thành ngành hàng có giá trị của tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường và xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững, ngành hàng vẫn đứng trước một số thách thức cần được nhận diện và giải quyết.
Một là, sản xuất còn phân tán, quy mô hộ gia đình là chủ yếu. Điều này gây khó khăn trong tổ chức sản xuất đồng bộ, áp dụng thống nhất quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng và xây dựng vùng nguyên liệu đáp ứng cùng một tiêu chuẩn.
Hai là, chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chưa thật sự đồng đều. Việc thu hái chưa bảo đảm tỷ lệ quả chín; phương pháp sơ chế, phơi, sấy và bảo quản giữa các hộ còn khác nhau, ảnh hưởng đến tính ổn định của chất lượng cà phê.
Ba là, liên kết giữa người trồng - hợp tác xã - doanh nghiệp chưa thật sự bền vững.Ở một số nơi, quan hệ vẫn chủ yếu dựa trên mua bán theo từng vụ; liên kết dài hạn về vùng nguyên liệu, tiêu chuẩn chất lượng, giá cả và chia sẻ lợi ích chưa được phát huy đầy đủ.
Bốn là, giá trị gia tăng từ chế biến sâu còn hạn chế.Nếu chủ yếu tiêu thụ cà phê nhân, phần lớn giá trị của chuỗi vẫn nằm ở các công đoạn rang xay, chế biến sản phẩm, đóng gói, thương hiệu, phân phối và bán lẻ. Vì vậy, cần từng bước nâng tỷ lệ chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm.
Năm là, yêu cầu của thị trường ngày càng cao. Người tiêu dùng và thị trường trong nước, quốc tế ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, an toàn thực phẩm, truy xuất, minh bạch vùng trồng, sản xuất bền vững, giảm phát thải, bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội.
Sáu là, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan tác động ngày càng rõ đến sản xuất.Thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, hạn hán, sâu bệnh và các hiện tượng thời tiết bất thường có thể ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng vườn cây.
Bảy là, năng lực xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm cần tiếp tục được nâng cao. Cà phê Khe Sanh có lợi thế về lịch sử, vùng nguyên liệu, cà phê Arabica, sản phẩm đặc sản và Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh”, nhưng cần tiếp tục xây dựng hình ảnh, câu chuyện sản phẩm và hệ thống nhận diện thống nhất, chuyên nghiệp.
Những thách thức trên đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ phát triển dựa chủ yếu vào diện tích, sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, tổ chức lại sản xuất, củng cố liên kết chuỗi, phát triển chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường.
2. Định hướng phát triển cà phê Khe Sanh trong thời kỳ mới
Bước vào giai đoạn mới, cà phê Khe Sanh cần phát huy lợi thế về điều kiện sinh thái, giống Arabica, vùng nguyên liệu, chất lượng sản phẩm, Chỉ dẫn địa lý và những kết quả đã đạt được; đồng thời đặt trọng tâm vào chất lượng, giá trị gia tăng, tính bền vững và sinh kế của người dân.
Một là, không chạy theo mở rộng diện tích mà tập trung nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích. Rà soát, phân loại vùng sản xuất; ưu tiên đầu tư cho những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp; cải tạo, tái canh diện tích già cỗi, năng suất thấp và từng bước chuyển đổi những diện tích không còn phù hợp sang cây trồng có hiệu quả hơn.
Hai là, phát triển cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản. Xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao, từng bước hình thành vùng cà phê đặc sản; chú trọng giống, quản lý vườn cây, dinh dưỡng, thu hái quả chín, sơ chế và kiểm soát chất lượng theo từng lô sản phẩm, tạo ra sản phẩm ổn định, có khả năng truy xuất và giá trị cao hơn.
Ba là, phát triển sản xuất xanh, hữu cơ và cà phê sinh thái. Tăng cường sử dụng phân hữu cơ, quản lý đất và nước hợp lý, giảm vật tư có nguy cơ gây ô nhiễm, tận dụng phụ phẩm; khuyến khích mô hình cà phê dưới tán cây, cây che bóng, nông lâm kết hợp nhằm bảo vệ đất, giữ ẩm, tăng đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bốn là, giảm phát thải và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Từng bước áp dụng tưới tiết kiệm nước, quản lý dinh dưỡng phù hợp, tăng che phủ đất, sử dụng phụ phẩm hợp lý; xây dựng phương pháp đo đếm, giám sát và quản lý phát thải trong vùng sản xuất.
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và phát triển ngành hàng. Xây dựng cơ sở dữ liệu vùng cà phê, quản lý thông tin vùng trồng, hộ sản xuất, diện tích, giống, quy trình canh tác và sản lượng; phát triển nhật ký sản xuất điện tử, truy xuất nguồn gốc và quản lý chất lượng theo chuỗi.
Sáu là, đáp ứng yêu cầu EUDR và các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Kiểm soát nguồn gốc vùng trồng, thông tin địa lý, lịch sử sử dụng đất, tính hợp pháp của vùng sản xuất và khả năng truy xuất sản phẩm; chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng ngay từ cơ sở.
Bảy là, phát triển chế biến sâu, nâng cao giá trị gia tăng tại địa phương. Nâng cao năng lực sơ chế, chế biến; phát triển các phương pháp washed, honey, natural và các sản phẩm cà phê đặc sản; mở rộng rang xay, cà phê hòa tan và các sản phẩm chế biến khác, từng bước chuyển từ bán nguyên liệu sang bán sản phẩm có chất lượng, thương hiệu và giá trị gia tăng cao.
Tám là, xây dựng thương hiệu trên nền tảng Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh”. Thống nhất quản lý, sử dụng Chỉ dẫn địa lý; kiểm soát nguồn gốc, chất lượng; xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu; quảng bá câu chuyện về vùng đất, lịch sử 100 năm và những giá trị đặc trưng của cà phê Khe Sanh, đưa Chỉ dẫn địa lý trở thành công cụ tạo giá trị thực tế cho người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Chín là, gắn phát triển cà phê với văn hóa và du lịch.Từng bước hình thành các tuyến tham quan vùng cà phê, điểm trải nghiệm tại vườn, không gian thưởng thức cà phê, tìm hiểu quy trình trồng, thu hái, rang xay và phát triển sản phẩm quà tặng đặc trưng; kết hợp câu chuyện 100 năm cà phê với lịch sử, văn hóa Khe Sanh - Hướng Hóa.
Mười là, mở rộng và đa dạng hóa thị trường. Trong nước, phát triển hệ thống phân phối, thương mại điện tử và các sản phẩm quà tặng; đối với thị trường quốc tế, tăng cường hội chợ, triển lãm, cuộc thi cà phê đặc sản, xúc tiến thương mại và kết nối với nhà nhập khẩu, nhà rang xay, từng bước xây dựng hình ảnh “Khe Sanh - Arabica từ vùng đất phía Tây Quảng Trị” trở thành dấu hiệu nhận diện có uy tín trên thị trường.
III. Ý NGHĨA CỦA HOẠT ĐỘNG “THEO DẤU CHÂN 100 NĂM CÀ PHÊ KHE SANH (1926 - 2026)”
Hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh (1926-2026)” không chỉ là hoạt động kỷ niệm một dấu mốc lịch sử mà còn là dịp nhìn lại hành trình một thế kỷ cây cà phê bén rễ, phát triển, vượt qua những biến động của lịch sử và từng bước trở thành ngành hàng quan trọng của vùng phía Tây Quảng Trị; đồng thời, mở ra tầm nhìn cho chặng đường phát triển trong thế kỷ tiếp theo.
Trước hết, đây là dịp nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của cây cà phê Khe Sanh, từ những hạt giống đầu tiên, quá trình thích nghi với điều kiện tự nhiên, những năm tháng chiến tranh làm gián đoạn sản xuất đến quá trình khôi phục, hình thành vùng chuyên canh và phát triển cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản. Qua đó, góp phần giúp thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn giá trị của vùng đất và những thành quả được tạo dựng qua nhiều thế hệ.
Hoạt động cũng là dịp tri ân, tôn vinh những thế hệ đã góp phần xây dựng ngành cà phê Khe Sanh: những người đặt những cây cà phê đầu tiên xuống đất; những người khai hoang, khôi phục sản xuất sau chiến tranh; các hộ gia đình, đồng bào Bru - Vân Kiều, Pa Kô; cán bộ kỹ thuật, khuyến nông; hợp tác xã, doanh nghiệp và những người làm công tác chế biến, rang xay, xây dựng thương hiệu. Đặc biệt, cần khẳng định vai trò của người trồng cà phê - chủ thể trực tiếp tạo nên giá trị của ngành hàng và là người cần được hưởng lợi từ quá trình nâng cao giá trị, xây dựng thương hiệu cà phê Khe Sanh.
Đây cũng là dịp quảng bá hình ảnh vùng đất, con người Hướng Hóa - Khe Sanh và sản phẩm cà phê Khe Sanh đến người dân, du khách, doanh nghiệp và đối tác trong nước, quốc tế; giới thiệu những kết quả nổi bật về cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản, sản phẩm OCOP và những sản phẩm từng bước tiếp cận thị trường quốc tế.
Một nội dung có ý nghĩa quan trọng là giới thiệu, khẳng định và phát huy giá trị Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh”. Việc Chỉ dẫn địa lý được xác lập tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ tên gọi, nguồn gốc và danh tiếng sản phẩm; đồng thời là nền tảng để xây dựng thương hiệu thống nhất, nâng cao giá trị và mở rộng thị trường.
Chuỗi hoạt động còn là không gian kết nối các chủ thể trong chuỗi giá trị cà phê: người trồng, hợp tác xã, doanh nghiệp, nhà khoa học, cơ quan quản lý, đơn vị phân phối và người tiêu dùng. Qua đó, thúc đẩy liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, hình thành những mối liên kết lâu dài, thực chất; đồng thời tạo điều kiện thu hút đầu tư vào vùng nguyên liệu, sản xuất bền vững, sơ chế, chế biến sâu, rang xay, xây dựng thương hiệu, thương mại và du lịch trải nghiệm.
Đặc biệt, “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” cần được nhìn nhận như điểm khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới, chứ không phải điểm kết thúc của hành trình 100 năm. Những câu chuyện được kể trong dịp này cần hướng đến tương lai: nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích; nâng cao thu nhập cho người trồng; phát huy giá trị Chỉ dẫn địa lý “Khe Sanh”; đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế và từng bước đưa cà phê Khe Sanh trở thành sản phẩm có vị thế trên bản đồ cà phê thế giới.
Theo Kế hoạch số 1733/KH-UBND ngày 03/4/2026 của UBND tỉnh Quảng Trị, chuỗi hoạt động “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh (1926-2026)” được tổ chức trong khuôn khổ Lễ hội Vì Hòa bình năm 2026 với các hoạt động Khai mạc; Hội thảo Phát triển ngành hàng cà phê đặc sản, cà phê nông lâm kết hợp; Trưng bày, giới thiệu sản phẩm cà phê và các sản phẩm đặc trưng của Quảng Trị; Hội thi Nhà nông đua tài – cà phê Khe Sanh,… qua đó góp phần kết nối lịch sử, văn hóa với phát triển kinh tế nông nghiệp và du lịch.
Hành trình tròn một thế kỷ cà phê Khe Sanh không chỉ dừng lại ở câu chuyện lịch sử. Thương hiệu Arabica Khe Sanh ngày nay đã khoác lên mình diện mạo mới với các sản phẩm OCOP chất lượng cao, vươn tầm xuất khẩu sang các thị trường quốc tế khắt khe như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản. Thông điệp "Cà phê Khe Sanh - Hương vị hòa bình" chính là lời khẳng định đầy tự hào: Vượt lên trên sự tàn phá của chiến tranh, những chồi xanh cà phê vẫn kiên cường vươn lên từ lòng đất cằn cỗi, trở thành nhân chứng sống cho tinh thần bất khuất và sự hồi sinh mạnh mẽ của con người Quảng Trị anh hùng. Đã biến vùng đất từng khét mùi bom đạn thành điểm đến trải nghiệm du lịch nông nghiệp, văn hóa độc đáo, ghi dấu ấn sâu đậm của cà phê Việt Nam trên bản đồ nông sản thế giới./.
Lê Văn Tùng- Chi cục Trồng trọt và BVTV
- Kinh doanh trên nền tảng số (12/10/2026)
- Nâng cao giá trị cà phê Khe Sanh (09/10/2026)
- Danh sách cơ sở thực hiện tự công bố sản phẩm theo quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ trên Website Sở Nông nghiệp và Môi trường (08/10/2026)
- Từ “Sáu rõ” đến KPI đổi mới đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý tại Chi cục Kinh tế hợp tác và quản lý chất lượng (08/10/2026)
- Tập huấn nâng cao kiến thức bảo đảm an toàn thực phẩm trong sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thuỷ sản (25/09/2026)
- Hợp nhất quy định về chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông, lâm, thuỷ sản (24/09/2026)
- Hướng dẫn và các yêu cầu kết nối hệ thống truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thuỷ sản (24/09/2026)
- Tổ chức Chuỗi Ngày hội sản phẩm Quảng Trị - Xuân Đinh Mùi 2027 (24/09/2026)
- Hồ sơ tự công bố sản phẩm của Công ty TNHH KENKO FOO: GẠO TRẮNG SWARNA 5% TÁM; GẠO TRẮNG THÔ SWARNA (LOẠI 10 % TÁM); GẠO TRẮNG SWARNA 100% TÁM. (23/09/2026)
- Danh sách cơ sở thực hiện tự công bố sản phẩm theo quy định tại Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ (14/09/2026)


