Chính sách về công tác địa danh kinh nghiệm quốc tế và đề xuất đối với Việt Nam

Post date: 11/03/2016

Font size : A- A A+
 Trong thực tế, nếu một đối tượng địa lý mang nhiều tên gọi khác nhau hoặc không thống nhất về cách gọi, cách viết sẽ dẫn đến nhiều phức tạp trong việc ra và thực hiện các quyết định hành chính, khó khăn trong việc xác định vị trí khi cần tìm kiếm, cứu nạn cứu hộ; bất tiện trong giao thương, buôn bán trong giáo dục, trao đổi thông tin và nhiều hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Việc đặt và sử dụng địa danh quá khác biệt với nguồn gốc ngôn ngữ xuất xứ hoặc thói quen sử dụng của người bản địa sẽ gây phản cảm và bất hợp tác của người sử dụng... Do đó, địa danh cần được chuẩn hóa và sử dụng thống nhất để bảo đảm sự thuận lợi cho mọi hoạt động của đời sống xã hội.

 Liên Hợp Quốc và vấn đề chuẩn hóa địa danh

Nhận thức tầm quan trọng của việc chuẩn hóa địa danh, năm 1959 Hội đồng kinh tế - xã hội (ECOSOC) của Liên Hợp Quốc đã thành lập một nhóm chuyên gia nghiên cứu, đề xuất các yêu cầu kỹ thuật về chuẩn hóa địa danh ở cấp quốc gia và quốc tế. Năm 1959, nhóm chuyên gia địa danh Liên Hợp Quốc (UNGEGN) được thành lập theo Nghị quyết 715A (XXVII) để thúc đẩy việc chuẩn hóa địa danh trên cả hai mức độ quốc gia và quốc tế.

Năm 1967, Hội nghị Liên Hợp Quốc về chuẩn hóa địa danh đã ban hành Nghị quyết số 4, trong đó, đưa ra kiến nghị: Mỗi quốc gia đều phải có cơ quan quốc gia về địa danh để thực hiện việc chuẩn hóa địa danh của quốc gia mình và gửi Liên Hợp Quốc công bố sử dụng thống nhất trên thế giới danh mục địa danh sau khi chuẩn hóa. Quốc gia nào chưa thành lập Cơ quan địa danh quốc gia thì Cơ quan Đo đạc và Bản đồ (ĐĐ&BĐ) của quốc gia đó được làm đại diện lâm thời tại Liên Hợp Quốc về công tác địa danh. Từ đó đến nay, theo định kỳ các Hội nghị về chuẩn hóa địa danh (UNCSGN) được tổ chức 5 năm một lần, và các cuộc họp của UNGEGN tổ chức trong khoảng thời gian giữa các Hội nghị để kiểm điểm, thúc đẩy việc thực hiện các nghị quyết thông qua tại Hội nghị về chuẩn hóa địa danh và bảo đảm sự hoạt động liên tục của công tác chuẩn hóa địa danh giữa các Hội nghị. UNGEGN là một trong bảy cơ quan chuyên môn thường trực của ECOSOC, với khoảng hơn 400 thành viên đến từ 198 quốc gia. UNGEGN hoạt động thông qua 24 tiểu ban vùng địa lý/ngôn ngữ và các nhóm làm việc theo chuyên đề. Việt Nam (đại diện là Cục ĐĐ&BĐ Việt Nam) đã tham gia hoạt động chuẩn hóa địa danh Tiểu vùng Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương của UNGEGN từ năm 1992.

Nguyên tắc chung chuẩn hóa địa danh của UNGEGN để bảo đảm tính khoa học và thống nhất là: Bảo đảm sự chính xác, địa danh chuẩn hóa phải được xác định một cách rõ ràng, chính xác vị trí địa lý của đối tượng mà nó mang tên; địa danh phải dễ phát âm, dễ đọc, dễ nhớ đối với người sử dụng; phù hợp với đặc điểm lịch sử và ngôn ngữ phổ biến của quốc gia; địa danh cần có sự gợi mở, liên tưởng tới đặc điểm địa lý, mối quan hệ về văn hóa, chính trị, thương mại của đối tượng và địa danh phải mang tính hội nhập.

Hơn 50 năm qua, UNGEGN đã theo đuổi mục tiêu về chuẩn hóa địa danh trên toàn thế giới, đã giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng và công bố sử dụng nhiều danh mục địa danh chuẩn hóa trên thế giới. Hiện nay, có khoảng 80% các quốc gia trên thế giới đã thành lập Uỷ ban Địa danh Quốc gia; trong khối ASEAN còn Việt Nam, Lào và Myanma chưa thành lập Ủy ban.

Hiện trạng về công tác địa danh tại Việt Nam

Ở Việt Nam, việc thống nhất quản lý địa danh từ nhiều năm qua vẫn chưa được đặt ra một cách nghiêm túc. Sự không thống nhất trong sử dụng địa danh dẫn đến tình trạng một đối tượng địa lý có thể có nhiều cách gọi tên, cách viết tên khác nhau; tên gọi của một đối tượng không thống nhất với nhau giữa văn bản và trên các phương tiện thông tin đại chúng còn khá phổ biến; việc đặt tên mới, thay đổi tên địa danh còn tùy tiện không có nguyên tắc thống nhất. Cách phiên âm, cách viết địa danh nước ngoài không thống nhất khiến người dân không biết  đọc, viết như thế nào cho đúng. Bên cạnh đó, cách đọc, cách viết tên các nước trên bản đồ của Việt Nam khiến người nước ngoài cũng không thể nhận ra những địa danh mà họ quan tâm cho dù đó là tên của quốc gia, thủ đô hay thành phố lớn, bởi người Việt gọi là nước Pháp, nước Ý, Tây Ban Nha trong khi người nước ngoài chỉ quen gọi là France, Italy, Spain...   Nhà nước chưa có luật về địa danh, chưa có một cơ quan chỉ đạo thống nhất về địa danh nên việc thay đổi, điều chỉnh, đặt mới địa danh còn tùy tiện, việc chuẩn hóa và thống nhất sử dụng địa danh càng bị hạn chế.

Để giải quyết những tồn tại liên quan đến địa danh, nhiều bộ, ngành đã ban hành những văn bản riêng để giải quyết những bất cập của địa danh liên quan đến hoạt động của mình, nhưng những văn bản đó không những không giải quyết được một cách tổng thể, toàn diện vấn đề mà đôi khi còn tạo ra những mâu thuẫn, bất cập mới giữa cách giải quyết của bộ, ngành này với cách giải quyết của bộ, ngành khác.  Do đó, chuẩn hoá địa danh và thống nhất sử dụng địa danh là một yêu cầu hết sức cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện phát triển, hội nhập. Việc chuẩn hóa và thống nhất sử dụng địa danh cần tuân thủ các qui định của Liên Hợp Quốc vì Việt Nam là quốc gia thành viên của tổ chức này. Tuân thủ những qui định này đồng nghĩa với việc địa danh phải được chuẩn hóa đúng và khoa học vì địa danh của Việt Nam sẽ thống nhất sử dụng không chỉ trong phạm vi Việt Nam mà còn phổ biến và thống nhất sử dụng trên toàn thế giới.

Nghị định số 12/2002/NĐ-CP và tiếp theo đó là Nghị định số 45/2015/NĐ-CP về hoạt động ĐĐ&BĐ là những văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam đề cập tới việc chuẩn hóa và thống nhất sử dụng địa danh trên các bản đồ. Việc chuẩn hóa địa danh để phục vụ cho công tác thành lập bản đồ theo những văn bản này thực chất cũng mới chỉ là làm chính xác hóa  lại những địa danh hiện đang sử dụng trên bản đồ về mặt chính tả và ngôn ngữ, chưa có sự quan tâm về nguồn gốc, xuất xứ của địa danh, quá trình sử dụng và biến đổi của địa danh, chưa quan tâm đến việc sử dụng địa danh đó đã đúng và hợp lý chưa và việc điều chỉnh thay đổi lại địa danh cần thực hiện theo nguyên tắc nào, qui định nào... Đây chỉ là những văn bản pháp luật điều chỉnh về thống nhất địa danh thể hiện trên bản đồ trong khi yêu cầu chuẩn hóa và thống nhất sử dụng địa danh cho toàn xã hội theo yêu cầu Liên Hợp Quốc vẫn chưa được đặt ra.

 

Ảnh minh họa

Chính sách về địa danh cần được quan tâm khi xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ

Để giải quyết những tồn tại, bất cập về địa danh. Chính phủ Việt Nam cần phải có một  cơ quan quốc gia về địa danh nhằm chỉ đạo thống nhất việc quản lý, chuẩn hoá địa danh, đặt mới địa danh, sử dụng địa danh theo các nguyên tắc khoa học, dân tộc, phù hợp với khuyến nghị và quy định của Liên Hợp Quốc. Nội dung này cần được luật hóa để có cơ sở thuận lợi cho việc triển khai.

Một Ủy ban Quốc gia  về địa danh bao gồm chuyên gia của các lĩnh vực bản đồ, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, dân tộc học sẽ giúp xây dựng và đưa ra những nguyên tắc thống nhất để thực hiện việc chuẩn hóa địa danh, xử lý thống nhất việc điều chỉnh, thay đổi, đặt mới địa danh trong toàn quốc, trên cơ sở đó địa danh sẽ được chuẩn hóa theo đúng ý nghĩa đầy đủ của nó và bảo tồn, phát huy được giá trị lịch sử - văn hóa của địa danh.

Một số nội dung cũng cần được luật hóa để bảo đảm việc quy định quản lý và thống nhất sử dụng địa danh trên toàn quốc được triển khai thuận lợi như: Chính phủ qui định việc thực hiện chuẩn hóa và sử dụng thống nhất địa danh chuẩn hóa trên bản đồ, trên các phương tiện thông tin đại chúng và mọi mặt hoạt động KT-XH, QP-AN có liên quan đến địa danh; việc chuẩn hóa địa danh phải thực hiện phù hợp với các nguyên tắc về chuẩn hóa địa danh của Liên Hợp Quốc, tuân thủ các qui định của Chính phủ và  chỉ đạo của Ủy ban quốc gia về địa danh; Chính phủ qui định hoạt động của Ủy ban quốc gia về địa danh và qui định việc chuẩn hóa địa danh, thống nhất sử dụng địa danh chuẩn hóa, qui định nguyên tắc thống nhất về việc thay đổi, điều chỉnh, đặt mới địa danh trong toàn quốc; Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) tham gia xây dựng, cập nhật và ban hành các danh mục địa danh chuẩn hóa theo qui định của Chính phủ để thống nhất sử dụng thể hiện trên các loại bản đồ và trong cơ sở dữ liệu (CSDL) địa lý; Bộ TN&MT xây dựng, cập nhật CSDL địa danh và cung cấp dữ liệu địa danh chuẩn hóa cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng để thành lập bản đồ và xây dựng CSDL địa lý.

 

Những nội dung cụ thể khác liên quan đến địa danh cần quan tâm khi xây dựng văn bản dưới luật gồm: Quy định về chính tả tiếng Việt; chi tiết quản lý, thống nhất sử dụng địa danh; cách phát âm, cách viết địa danh nước ngoài trên các văn bản và  phương tiện thông tin đại chúng; thống nhất về cách gọi tên các dân tộc thiểu số Việt Nam; chi tiết về CSDL địa danh và từ điển địa danh.

Nguồn: Lê Minh Tâm (Hội Trắc địa, Bản đồ, Viễn thám Việt Nam)

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 16

  • Hôm nay 5400

  • Tổng 10.337.750