Quản lý khoáng sản sau 4 năm có Luật

Post date: 24/11/2014

Font size : A- A A+
 Sau khi Luật Khoáng sản có hiệu lực, cùng với đó là sự ra đời và hoàn chỉnh của hệ thống văn bản pháp luật thì việc quản trị về tài nguyên khoáng sản đang được cho là có những biện pháp cải thiện.
 Nhiều năm trước, khi Luật Khoáng sản chưa có hiệu lực, quản lý tài nguyên khoáng sản đã nảy sinh nhiều hệ lụy về kinh tế, xã hội. Không ít doanh nghiệp (DN) giàu lên nhờ khai thác khoáng sản, trong khi nguồn thu từ khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà nước rất ít ỏi. Tại nhiều cuộc họp về quản lý khoáng sản, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam đã không ít lần đưa ra những hạn chế của lĩnh vực này, nổi cộm nhất là vấn đề cấp phép khai thác khoáng sản quá dễ dãi như cho không mỏ cho các DN. Vì dễ dãi nên đã bùng phát việc ra đời và cấp phép hoạt động của các DN. Cao điểm nhất phải kể đến trong thời kì 2009 – 2011, các địa phương cấp gần 3.500 giấy phép (gấp 7 lần số Trung ương cấp trong 12 năm). 70% trong tổng số giấy phép khoáng sản do địa phương cấp có thời hạn khai thác dưới 5 năm. Điều này đã dẫn tới tâm lý nhiều DN đầu tư theo kiểu ngắn hạn để thu hồi nhanh vốn đầu tư, mà không quan tâm đến thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Không sử dụng hợp lý, tiết kiệm khoáng sản khi khai thác, cũng như chưa quan tâm đến trách nhiệm hỗ trợ địa phương và người dân nơi có khoáng sản khai thác.

Lĩnh vực khai thác khoáng sản màu mỡ đến mức số DN chuyển hướng sang khai thác và chế biến khoáng sản tăng chóng mặt theo từng năm. Theo thống kê, năm 2000 chỉ có hơn 427 DN, đến năm 2012 lên đến gần 2.000 DN. Việc dễ dãi trong việc cấp giấy phép kéo theo đó là hàng loạt điều kiện quy định trong khai thác khoáng sản bị các DN khai khoáng dễ dàng lách qua. Theo nghiên cứu, đánh giá về quản lý và sử dụng tài nguyên khoáng sản tại nước ta từ năm 2012 trở về trước, TS. Nguyễn Thành Sơn – Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam nhận định: Hàng năm, ngân sách nhà nước thất thu hàng nghìn tỷ đồng từ thuế, phí trong khai thác khoáng sản. Bởi thực tế, việc thu thuế, phí tài nguyên vẫn chỉ dựa trên sản lượng khoáng sản đã được khai thác do DN tự khai báo. Trong khi sự tự giác, chân thật trong khai báo của DN tại Việt Nam vốn được đánh giá là rất kém. Đó là điều tất yếu khi người dân sống quanh khu mỏ càng nghèo, càng khổ bao nhiêu thì tỷ lệ nghịch với nó là độ giàu có theo hướng mũi tên lên thẳng của các chủ mỏ.

Luật Khoáng sản 2010 ra đời và có hiệu lực từ tháng 7-2011, sau 3 năm đã ban hành được 23 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản 2010. Theo đánh giá của các chuyên gia khoáng sản, điểm cốt lõi mang tính đột phá của Luật Khoáng sản 2010 chính là công khai, minh bạch ở tất cả các khâu trong quy trình hoạt động khai thác khoáng sản.

Về vấn đề này, Cục Kiểm soát hoạt động khoáng sản miền Bắc đã đưa ra nhận định: Thực thi Luật Khoáng sản 2010 thực tế đã có nhiều chuyển biến tích cực so với những năm trước đó. Khâu giám sát sản lượng khai thác của các DN nếu trước đây không thực hiện được, hoặc không xử lý được các DN khai báo sai là do trong các văn bản pháp luật về quản lý khoáng sản trước đây không có quy định và chế tài xử lý vi phạm trên. Nhưng hiện nay, cơ quan quản lý có thể giám sát được bằng kỹ thuật và chế tài, vì Luật Khoáng sản 2010 quy định tại Điều 63, yêu cầu DN khai thác phải kiểm kê, báo cáo với cơ quan có thẩm quyền số lượng khoáng sản đã khai thác trong từng năm. Và trong Nghị định 142/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản, cũng quy định chi tiết chế tài xử phạt các hành vi vi phạm trong khai báo sản lượng của DN.

Tác giả bài viết: H.Giang - Q.Minh
Nguồn tin: daidoanket.vn/

More

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 12

  • Hôm nay 4972

  • Tổng 10.351.326