Khát vọng lấy biển "nuôi" đất liền

8:43, Thứ Sáu, 17-10-2014

Xem với cỡ chữ : A- A A+
"Lấy biển "nuôi" đất liền là một trong những giải pháp thông minh nhất, mà nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng hiệu quả. Việt Nam hội tụ đầy đủ tiềm năng và lợi thế để phát triển mạnh kinh tế biển mang tính bền vững lâu dài". Tiến sĩ khoa học (TSKH) Nguyễn Tác An, Phó Chủ tịch Hội Khoa học-Kỹ thuật biển Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Hải dương học, nguyên Chủ tịch Ủy ban quốc gia Chương trình Hải dương học liên Chính phủ Việt Nam, mở đầu cuộc trao đổi thú vị với chúng tôi.


TSKH Nguyễn Tác An trả lời phỏng vấn

PV: Dưới góc nhìn của một nhà khoa học, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng, lợi thế của biển đảo nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế và củng cố thế trận quốc phòng-an ninh của đất nước?

TSKH Nguyễn Tác An: Tôi muốn nhấn mạnh lời dặn sâu sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm cách đây 500 năm: "Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình". Cho đến nay, câu nói ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với cả dân tộc Việt Nam trong suốt chặng đường phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có "mặt tiền" hướng ra Biển Đông, với đường bờ biển trải dài trên 3.260km thuộc 28 tỉnh, thành phố. Vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, tài nguyên phong phú, đa dạng, có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có hơn 100 cảng biển, 48 vũng, vịnh và trên 100 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển.

Đây là những điều kiện cần, tạo thuận lợi để ngành dầu khí, hàng hải, nuôi trồng, dịch vụ... phát triển. Nước ta còn có trên 3.000 hòn đảo, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những tiền đồn quan trọng bảo vệ đất nước từ xa, là nơi nuôi sống và trú tránh bão của hàng chục triệu ngư dân Việt Nam...

PV: Gần đây, khi nói về chiến lược phát triển kinh tế biển, nhiều chuyên gia đề cập đến yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về tư duy. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

TSKH Nguyễn Tác An: Từ hàng ngàn năm nay, để tồn tại, người Việt đã biết cách tổ chức khai thác tiềm năng của biển và đạt được những kết quả nhất định. Cũng như đa số các quốc gia phương Đông, vì rất nhiều lý do cả khách quan lẫn chủ quan, nên tư duy lấy đất liền "nuôi" biển chưa đặt ra sâu sắc trong nếp nghĩ, cách làm của nhiều thế hệ.

Trong công cuộc đổi mới, Việt Nam thay đổi tư duy "lấy đất liền nuôi biển", chuyển sang "lấy biển nuôi đất liền". Tiếc rằng, tư duy mới này, thời gian qua chưa được chuyển đổi một cách mạnh mẽ, mới chỉ thể hiện ở các nhà khoa học, một số nhà quản lý và một số ít ngư dân, chứ chưa phải là nhận thức chung của toàn dân tộc.

Chính vì thế, mới tồn tại nhiều nghịch lý là chúng ta giàu tiềm năng, lợi thế từ biển đảo, nhưng do phương thức khai thác, quản lý kém hiệu quả nên chưa khi nào Việt Nam giàu và mạnh từ biển, gây lãng phí lớn về tài nguyên và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thêm nữa, tại địa bàn biển đảo có trên 20 triệu người dân sinh sống, nhưng đây vẫn đang là khu vực lạc hậu và nghèo nàn nhất.

Không ai lại tiến ra biển lớn chỉ với một chiếc ghe nhỏ. Nếu chúng ta đột phá mạnh mẽ hơn nữa về tư duy, nhận thức và hành động, nhất định sẽ thay đổi được cách tiếp cận để tổ chức lại không gian kinh tế biển, tổ chức lại lực lượng tiến ra biển, tổ chức lại hoạt động sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế biển trên cơ sở tính toán khoa học hơn, nhằm thu được kết quả cao nhất và tránh được những rủi ro không đáng có.

Tôi nhận thấy, nhận thức về biển đảo hiện nay đã rõ, nhưng nhận thức cụ thể cho đúng tầm trong từng giai đoạn phát triển thì chưa rõ ràng, khách quan. Chúng ta đã có Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Luật Biển cũng đã được Quốc hội thông qua. Những quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển theo đúng nghĩa lại chưa được cụ thể hóa đúng tầm. Thành thử, không ít bộ, ngành, địa phương còn lúng túng, chưa tập hợp được sức mạnh, chưa thật sự coi trọng yếu tố biển trong chiến lược phát triển thuộc lĩnh vực quản lý được giao.

PV: Hiện nay, những quốc gia nào trên thế giới đã được xếp là cường quốc biển và những tiêu chí để trở thành một quốc gia biển?

TSKH Nguyễn Tác An: Thế giới hiện tại có 3 quốc gia đã trở thành cường quốc biển, đó là Hoa Kỳ, Nga và Anh. Ngoài ra, còn có một số nước khác, kinh tế biển có đóng góp lớn cho nền kinh tế-xã hội như Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Nhật Bản... Một cường quốc biển thì kinh tế biển phải thể hiện được tiềm lực đóng góp cho nền kinh tế quốc gia; chính sách khai thác, quản lý biển phải có hiệu quả và cuối cùng là phải đủ tiềm lực, khả năng về quốc phòng để bảo vệ quyền lợi kinh tế trên vùng biển đã được tuyên bố chủ quyền.

Có rất nhiều quan điểm để xếp một đất nước thành một quốc gia biển, nhưng theo tôi, một quốc gia biển trước hết cần phải có biển. Sau đó phải có tư duy mở, dựa vào tri thức khoa học, thông qua quá trình giao lưu, hội nhập để chia sẻ, học hỏi khoa học kỹ thuật, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế giới.

Văn hóa biển, tài nguyên biển khác với văn hóa đất liền, vì tài nguyên biển là tài nguyên chia sẻ nên mới có câu "điền tư ngư công". Tức là đất thì có chủ nhưng nếu nói vịnh Hạ Long, Nha Trang, Cam Ranh... là của riêng một ông chủ nào, một ngành nào thì không thể. Nguồn lợi lớn của Biển Đông về kinh tế là khoáng sản, dầu khí, vận tải biển... nếu chúng ta có tư duy mở, có các giải pháp mềm để hợp tác, chia sẻ cùng các nước, chắc chắn sẽ thu được nhiều kết quả từ biển. Đồng thời, đây là cách tốt nhất để bảo vệ lợi ích quốc gia, bởi lúc đó, giữa các quốc gia có sự đan xen, ràng buộc lẫn nhau về lợi ích kinh tế, nên sẽ ra sức bảo vệ, duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực.

PV: Ông nhìn nhận như thế nào về cách thức tổ chức, quản lý và khai thác tài nguyên biển đảo của đất nước ta thời gian qua?

TSKH Nguyễn Tác An: Thời gian qua, chúng ta khai thác, quản lý và phát triển kinh tế biển kém hiệu quả, gây lãng phí tài nguyên và quan trọng hơn là, chưa thể đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu. Theo thống kê mới nhất, đóng góp từ kinh tế biển hiện nay của Việt Nam mới chỉ đạt con số từ 13 đến 15% vào GDP.

Nhìn nhận khách quan, chúng ta đang ở trong tình trạng "ăn đong", "bóc ngắn cắn dài" từ biển, chứ chưa thể có những bước đi dài hơi, vững chắc để kinh tế biển thực sự có những đóng góp xứng tầm vào nền kinh tế-xã hội của đất nước. Ngoài ra, do chúng ta quản lý kém hiệu quả nên đã gây ô nhiễm môi trường biển đảo tới mức báo động "đỏ". Yếu tố này kết hợp với hiện tượng nóng lên của trái đất, khiến đất nước gánh chịu rất nhiều hậu quả của quá trình biến đổi khí hậu.

Trong đó, đáng lưu ý nhất, theo dự báo, đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước nguy có mất 40% diện tích, đồng bằng sông Hồng mất 11% diện tích. Nhiều nơi như Bình Thuận, Cà Mau, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng... tình trạng sạt lở bờ biển đang diễn ra vô cùng gay gắt. Riêng tại huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, có nơi 20 năm nay, biển đã ăn sâu vào đất liền hơn 2,5km.

Những vấn đề nói trên, ngoài lý do hạn chế về tư duy còn có nguyên nhân từ sự lạc hậu, yếu kém về khoa học, công nghệ, áp dụng kinh nghiệm của thế giới theo kiểu rập khuôn. Tâm lý của một bộ phận cán bộ quản lý các ngành, các cấp và các địa phương còn "ngại" đẩy mạnh hội nhập. Ngoài ra, công tác phòng chống tham nhũng, tổ chức cán bộ còn nhiều yếu kém, có biểu hiện của lợi ích nhóm đã làm suy giảm đáng kể sức mạnh vươn ra biển lớn..


Ngư dân khai thác hải sản trên biển. Ảnh: Hải Luận

PV: Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đề ra con số kinh tế biển sẽ đóng góp 53-55% GDP. Vậy ông nhìn nhận như thế nào về vấn đề này?

TSKH Nguyễn Tác An: Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 xác định 4 trục chính về kinh tế biển: Dầu khí - hàng hải - thủy sản - du lịch. Ngoài ra, còn có các lĩnh vực dịch vụ khác đi kèm để phục vụ 4 lĩnh vực chính này. Trong 4 lĩnh vực này, theo tôi, chúng ta cần tập trung ưu tiên đầu tư, tổ chức quản lý lại ngành dầu khí và hàng hải. Ngoài ra, xây dựng thêm từ 1 đến 2 trung tâm kinh tế mở giống như Hồng Công, đồng thời tập trung đầu tư thêm để ngành thủy sản có bước phát triển mới.

Riêng con số đề ra trong Chiến lược biển, tôi chỉ xem đó là một mục tiêu cụ thể, có thể đạt được và cũng có thể không vì còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Cái mà tôi cùng rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm là mục tiêu dài hạn, tức là khi nào chúng ta trở thành một quốc gia mạnh, giàu từ biển. Điều đó rất quan trọng, vì ở Biển Đông mà không bảo đảm môi trường hòa bình để làm kinh tế thì giàu thế nào được, nhất là vào lúc này, khi Trung Quốc đã và đang có nhiều âm mưu, động thái gây mất ổn định an ninh, nhằm độc chiếm Biển Đông.

Giàu và mạnh là hai mặt của một vấn đề, đây chính là tư duy chiến lược. Hai mặt chính này nếu được giải quyết tốt thì các mục tiêu cụ thể không có gì là không đạt được. Vấn đề là cả dân tộc có dám ra biển lớn không? Có chịu thực hiện hay không? Đó lại là câu chuyện của cả hệ thống chính trị về tư duy dài hạn, về thể chế đột phá.

Nếu có được tư duy như vậy thì chúng ta sẽ có chính sách, cơ chế để thu hút các nhà đầu tư. Lúc đó, doanh nghiệp sẽ đi tiên phong trong việc khai thác tiềm năng, lợi thế của biển. Đồng thời, một vấn đề nữa cần phải được coi trọng, đó là đẩy mạnh hội nhập quốc tế để "đi tắt đón đầu", học hỏi tri thức, trình độ quản lý của bạn bè thế giới nhằm đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ hơn.

Tác giả bài viết: Hải Luận - Hoàng Sa
Nguồn tin: bienphong.com.vn

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 4

  • Hôm nay 6292

  • Tổng 10.298.334