Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
Quy định việc quản lý các hải đảo không có dân cư sinh sống
Hiện nay, công tác QLNN đối với các hải đảo của nước ta đang nổi lên nhiều vấn đề phức tạp như: Không đủ số liệu, tư liệu, thông tin về về các đảo (nhất là các hải đảo không có dân cư sinh sống); những số liệu, tư liệu, thông tin về TN,MT tại các đảo nằm rải rác, phân tán, thiếu tính chính xác, chưa đồng bộ. Trong khi đó, việc khai thác, sử dụng, tiếp cận tài nguyên tại các hải đảo còn thiếu hành lang pháp lý điều chỉnh, cơ quan QLNN cũng chưa nắm bắt được hiện trạng khai thác, sử dụng các đảo.
Nhằm khắc phục những tồn tại, bất cập nêu trên, năm 2012, Bộ TN&MT đã phê duyệt thuyết minh, dự toán đề tài khoa học công nghệ cấp bộ, Đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất xây dựng khung thể chế, chính sách quản lý các hải đảo” mã số TNMT.06.25, thuộc chương trình Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý tổng hợp, thống nhất về B&HĐ giai đoạn 2010-2015. Thời gian thực hiện đề tài là 2 năm (2013-2014).
Đề tài đã được nghiên cứu, điều tra và thực hiện hoàn thành theo đúng thuyết minh được phê duyệt, sản phẩm của Đề tài đã, đang và sẽ cung cấp cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn tin cậy phục vụ cho việc đề xuất xây dựng khung thể chế, chính sách quản lý các hải đảo ở nước ta. Đặc biệt, Đề tài đã đề xuất xây dựng được dự thảo “Nghị định của Chính phủ quy định về quản lý các hải đảo không có dân cư sinh sống”, dự thảo Nghị định được bố cục trong 4 Chương với 23 điều, bao gồm các nội dung chính sau:
Về tên gọi: Tên dự thảo Nghị định theo thuyết minh được phê duyệt là “Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý các hải đảo không có dân cư sinh sống”.
Phạm vi điều chỉnh (quy định tại Điều 1 dự thảo Nghị định): Để phù hợp với phạm vi, chức năng quản lý nhà nước của Bộ TN&MT, nhóm tác giả thống nhất phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị định chỉ quy định các vấn đề liên quan trực tiếp đến khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ các hải đảo không có dân cư sinh sống. Do đó, Điều 1 dự thảo Nghị định quy định phạm vi điều chỉnh như sau: Nghị định này quy định việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ các hải đảo không có dân cư sinh sống thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ, bảo tồn các hải đảo không có dân cư sinh sống.
Về nguyên tắc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ các hải đảo không có dân cư sinh sống (quy định tại Điều 4 dự thảo Nghị định): Dự thảo Nghị định quy định 5 nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, các hải đảo không có dân cư sinh sống phải được điều tra, đánh giá tổng thể, toàn diện về các điều kiện tự nhiên, KT-XH, TN&MT.
Thứ hai, các hải đảo không có dân cư sinh sống phải được điều tra, thống kê, đặt tên, phân loại, định hướng khai thác, sử dụng hợp lý phục vụ phát triển KT-XH, bảo đảm QP-AN.
Thứ ba, bảo đảm hài hòa giữa nhu cầu khai thác, sử dụng và yêu cầu bảo tồn, phát triển và bảo vệ môi trường, hệ sinh thái các hải đảo không có dân cư sinh sống;
Thứ tư, từng bước nâng cao sức chống chịu của các hải đảo không có dân cư sinh sống thích ứng với BĐKH và nước biển dâng.
Thứ năm, việc khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ, bảo tồn các hải đảo không có dân cư sinh sống phải phù hợp với Danh mục phân loại hải đảo và được quản lý theo Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống đã được Chính phủ phê duyệt, bảo đảm quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Về phân loại, đặt tên các hải đảo không có dân cư sinh sống (quy định tại Điều 7 dự thảo Nghị định):
Thứ nhất, về phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống: Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống tùy theo các tiêu chí khác nhau (ví dụ: nếu xét tiêu chí về khoảng cách thì hải đảo được phân loại thành đảo gần bờ và đảo xa bờ; nếu xét tiêu chí về diện tích thì hải đảo được phân loại thành đảo lớn và đảo nhỏ; nếu xét tiêu chí về cấu tạo địa chất thì hải đảo được phân loại thành đảo và đảo đá...). Tuy nhiên, dưới góc độ QLNN, nhóm tác giả nghiên cứu, đề xuất phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống trong dự thảo Nghị định bao gồm 3 nhóm: Nhóm hải đảo không có dân cư sinh sống được phép khai thác, sử dụng tài nguyên; nhóm hải đảo không có dân cư sinh sống phải bảo tồn; nhóm hải đảo không có dân cư sinh sống được sử dụng vào mục đích đặc biệt. Cách tiếp cận phân loại như dự thảo Nghị định nhằm tạo cơ sở và làm căn cứ cho việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ, bảo tồn hệ sinh thái và ĐDSH cho từng loại hải đảo cụ thể.
Thứ hai, về tiêu chí phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống: Hải đảo không có dân cư sinh sống phải bảo tồn bao gồm các hải đảo có hệ sinh thái tự nhiên đáp ứng các tiêu chí theo quy định của pháp luật về ĐDSH; được xếp hạng, công nhận là di sản thiên nhiên quốc gia, thế giới; di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa. Hải đảo không có dân cư sinh sống được sử dụng cho mục đích đặc biệt bao gồm các hải đảo có các điểm dùng để xác định đường cơ sở hoặc được sử dụng cho mục đích QP-AN, mục đích đặc biệt khác. Hải đảo không có dân cư sinh sống được phép khai thác, sử dụng tài nguyên bao gồm các hải đảo không thuộc hai trường hợp nêu trên.
Thứ ba, về tên gọi của hải đảo không có dân cư sinh sống: dự thảo Nghị định quy định tên gọi hải đảo phải được đặt tên bằng tiếng Việt và bắt đầu là từ “Đảo”.
Thứ tư, về trách nhiệm lập, thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh Danh mục phân loại, tên các hải đảo không có dân cư sinh sống: dự thảo Nghị định quy định Bộ TN&MT có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, điều chỉnh Danh mục phân loại, tên các hải đảo không có dân cư sinh sống. Đồng thời, quy định kỳ rà soát, điều chỉnh, bổ sung Danh mục phân loại, tên các hải đảo không có dân cư sinh sống được là 5 năm một lần hoặc đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
Về lập Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống ( từ Điều 9 đến Điều 15): Dự thảo Nghị định quy định cụ thể về nguyên tắc, căn cứ, nội dung lập, kỳ Quy hoạch, trách nhiệm lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống; lấy ý kiến và công bố Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống; tổ chức thực hiện Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống.
Về chế độ khai thác, sử dụng tài nguyên trên các hải đảo không có dân cư sinh sống ( từ Điều 16 đến Điều 18):
Trên cơ sở phân loại các hải đảo không có dân cư sinh sống, Dự thảo Nghị định quy định về chế độ khai thác, sử dụng tài nguyên của từng loại hải đảo cụ thể, bảo đảm tài nguyên hải đảo được khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững theo phương thức QLTH.
Dự thảo Nghị định được ban hành sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác QLNN TH, TN B&HĐ nói chung và đối với các hải đảo không có dân cư sinh sống nói riêng, bảo đảm tài nguyên hải đảo được khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách về lĩnh vực biển, hải đảo. Đồng thời, góp phần làm cơ sở cho việc đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Hiện nay, một số sản phẩm của Đề tài đã được cụ thể hoá trong một số quy định của dự thảo Luật TN&MT B&HĐ do Tổng cục B&HĐ Việt Nam, Bộ TN&MT chủ trì xây dựng (đến nay, dự thảo Luật đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất đưa ra lấy ý kiến biểu quyết tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII).
Đề tài đã được nghiên cứu, điều tra và thực hiện hoàn thành theo đúng thuyết minh được phê duyệt, sản phẩm của Đề tài đã, đang và sẽ cung cấp cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn tin cậy phục vụ cho việc đề xuất xây dựng khung thể chế, chính sách quản lý các hải đảo ở nước ta. Đặc biệt, Đề tài đã đề xuất xây dựng được dự thảo “Nghị định của Chính phủ quy định về quản lý các hải đảo không có dân cư sinh sống”, dự thảo Nghị định được bố cục trong 4 Chương với 23 điều, bao gồm các nội dung chính sau:
Về tên gọi: Tên dự thảo Nghị định theo thuyết minh được phê duyệt là “Nghị định của Chính phủ quy định việc quản lý các hải đảo không có dân cư sinh sống”.
Phạm vi điều chỉnh (quy định tại Điều 1 dự thảo Nghị định): Để phù hợp với phạm vi, chức năng quản lý nhà nước của Bộ TN&MT, nhóm tác giả thống nhất phạm vi điều chỉnh của dự thảo Nghị định chỉ quy định các vấn đề liên quan trực tiếp đến khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ các hải đảo không có dân cư sinh sống. Do đó, Điều 1 dự thảo Nghị định quy định phạm vi điều chỉnh như sau: Nghị định này quy định việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ các hải đảo không có dân cư sinh sống thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ, bảo tồn các hải đảo không có dân cư sinh sống.
Về nguyên tắc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo tồn, bảo vệ các hải đảo không có dân cư sinh sống (quy định tại Điều 4 dự thảo Nghị định): Dự thảo Nghị định quy định 5 nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, các hải đảo không có dân cư sinh sống phải được điều tra, đánh giá tổng thể, toàn diện về các điều kiện tự nhiên, KT-XH, TN&MT.
Thứ hai, các hải đảo không có dân cư sinh sống phải được điều tra, thống kê, đặt tên, phân loại, định hướng khai thác, sử dụng hợp lý phục vụ phát triển KT-XH, bảo đảm QP-AN.
Thứ ba, bảo đảm hài hòa giữa nhu cầu khai thác, sử dụng và yêu cầu bảo tồn, phát triển và bảo vệ môi trường, hệ sinh thái các hải đảo không có dân cư sinh sống;
Thứ tư, từng bước nâng cao sức chống chịu của các hải đảo không có dân cư sinh sống thích ứng với BĐKH và nước biển dâng.
Thứ năm, việc khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ, bảo tồn các hải đảo không có dân cư sinh sống phải phù hợp với Danh mục phân loại hải đảo và được quản lý theo Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống đã được Chính phủ phê duyệt, bảo đảm quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Về phân loại, đặt tên các hải đảo không có dân cư sinh sống (quy định tại Điều 7 dự thảo Nghị định):
Thứ nhất, về phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống: Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống tùy theo các tiêu chí khác nhau (ví dụ: nếu xét tiêu chí về khoảng cách thì hải đảo được phân loại thành đảo gần bờ và đảo xa bờ; nếu xét tiêu chí về diện tích thì hải đảo được phân loại thành đảo lớn và đảo nhỏ; nếu xét tiêu chí về cấu tạo địa chất thì hải đảo được phân loại thành đảo và đảo đá...). Tuy nhiên, dưới góc độ QLNN, nhóm tác giả nghiên cứu, đề xuất phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống trong dự thảo Nghị định bao gồm 3 nhóm: Nhóm hải đảo không có dân cư sinh sống được phép khai thác, sử dụng tài nguyên; nhóm hải đảo không có dân cư sinh sống phải bảo tồn; nhóm hải đảo không có dân cư sinh sống được sử dụng vào mục đích đặc biệt. Cách tiếp cận phân loại như dự thảo Nghị định nhằm tạo cơ sở và làm căn cứ cho việc quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ, bảo tồn hệ sinh thái và ĐDSH cho từng loại hải đảo cụ thể.
Thứ hai, về tiêu chí phân loại hải đảo không có dân cư sinh sống: Hải đảo không có dân cư sinh sống phải bảo tồn bao gồm các hải đảo có hệ sinh thái tự nhiên đáp ứng các tiêu chí theo quy định của pháp luật về ĐDSH; được xếp hạng, công nhận là di sản thiên nhiên quốc gia, thế giới; di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa. Hải đảo không có dân cư sinh sống được sử dụng cho mục đích đặc biệt bao gồm các hải đảo có các điểm dùng để xác định đường cơ sở hoặc được sử dụng cho mục đích QP-AN, mục đích đặc biệt khác. Hải đảo không có dân cư sinh sống được phép khai thác, sử dụng tài nguyên bao gồm các hải đảo không thuộc hai trường hợp nêu trên.
Thứ ba, về tên gọi của hải đảo không có dân cư sinh sống: dự thảo Nghị định quy định tên gọi hải đảo phải được đặt tên bằng tiếng Việt và bắt đầu là từ “Đảo”.
Thứ tư, về trách nhiệm lập, thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh Danh mục phân loại, tên các hải đảo không có dân cư sinh sống: dự thảo Nghị định quy định Bộ TN&MT có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển lập, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, điều chỉnh Danh mục phân loại, tên các hải đảo không có dân cư sinh sống. Đồng thời, quy định kỳ rà soát, điều chỉnh, bổ sung Danh mục phân loại, tên các hải đảo không có dân cư sinh sống được là 5 năm một lần hoặc đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ.
Về lập Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống ( từ Điều 9 đến Điều 15): Dự thảo Nghị định quy định cụ thể về nguyên tắc, căn cứ, nội dung lập, kỳ Quy hoạch, trách nhiệm lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống; lấy ý kiến và công bố Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống; tổ chức thực hiện Quy hoạch sử dụng hải đảo không có dân cư sinh sống.
Về chế độ khai thác, sử dụng tài nguyên trên các hải đảo không có dân cư sinh sống ( từ Điều 16 đến Điều 18):
Trên cơ sở phân loại các hải đảo không có dân cư sinh sống, Dự thảo Nghị định quy định về chế độ khai thác, sử dụng tài nguyên của từng loại hải đảo cụ thể, bảo đảm tài nguyên hải đảo được khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững theo phương thức QLTH.
Dự thảo Nghị định được ban hành sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác QLNN TH, TN B&HĐ nói chung và đối với các hải đảo không có dân cư sinh sống nói riêng, bảo đảm tài nguyên hải đảo được khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững, đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách về lĩnh vực biển, hải đảo. Đồng thời, góp phần làm cơ sở cho việc đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Hiện nay, một số sản phẩm của Đề tài đã được cụ thể hoá trong một số quy định của dự thảo Luật TN&MT B&HĐ do Tổng cục B&HĐ Việt Nam, Bộ TN&MT chủ trì xây dựng (đến nay, dự thảo Luật đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất đưa ra lấy ý kiến biểu quyết tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII).
Tác giả bài viết: ThS. Nguyễn Văn Hùng (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
Nguồn tin: tapchitainguyenvamoitruong.vn
Các tin khác
- Khai thác và bảo vệ khu vực ven biển: Siết chặt quản lý đất đai (21/05/2015)
- Quảng Bình: Nỗ lực bảo vệ môi trường vùng bờ (11/05/2015)
- Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và Hải đảo: Rà soát để tránh chồng chéo (16/04/2015)
- Phát triển du lịch gắn liền bảo vệ môi trường biển (21/03/2015)
- Chuỗi đảo Việt Nam - Tầm nhìn kinh tế biển (21/03/2015)
- Du lịch duyên hải Nam Trung Bộ cất cánh từ biển (03/03/2015)
- Lặn biển bảo vệ san hô (19/01/2015)
- Đưa biển xa gần với đất liền (05/01/2015)
- Uỷ ban MTTQVN tỉnh: Thăm, tặng quà các gia đình có con em đang làm nhiệm vụ bảo vệ biển đảo (17/12/2014)
- Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân viên vùng biên giới, hải đảo (12/12/2014)


