Dữ liệu là cơ sở cho Quyết định chính xác: từ quản lý đến quản trị ngành nông nghiệp và môi trường Quảng Trị

16:30, Thứ Ba, 20-10-2026

Xem với cỡ chữ : A- A A+

Ngày 09/10/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị tham gia Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số: Từ kiến trúc, nền tảng, dữ liệu đến kết quả thực chất, nâng cao hiệu quả quản trị”, đây là một trong những hoạt động chào mừng Ngày Chuyển đổi số tỉnh Quảng Trị, ngày Chuyển đổi số Quốc gia 10.10.

Tại Hội thảo, Sở Nông nghiệp và Môi trường gửi tham luận “Dữ liệu là cơ sở cho quyết định chính xác: Từ quản lý đến quản trị ngành Nông nghiệp và Môi trường”. Câu hỏi được đặt ra xuyên suốt dữ liệu của ngành đã thực sự trở thành cơ sở cho các quyết định điều hành hay chưa?

Toàn cảnh Hội thảo

Từ quản lý đến quản trị: Thay đổi về tư duy đối với dữ liệu

Luật Dữ liệu số số 60/2024/QH15 điều chỉnh đồng thời việc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý và sử dụng dữ liệu số, đồng thời phân định rõ chủ thể dữ liệu, chủ sở hữu dữ liệu và chủ quản dữ liệu. Cách tiếp cận này cho thấy dữ liệu không chỉ là đối tượng của quản lý nhà nước mà là một loại tài nguyên cần được quản trị.

Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất một khung phân tích để nhận diện mức độ phát triển của dữ liệu ngành. Ở giai đoạn quản lý, trọng tâm là tạo lập, thu thập, lưu trữ dữ liệu, thường dừng ở việc đủ hồ sơ, đủ cơ sở dữ liệu. Ở giai đoạn quản trị, dữ liệu được đưa vào danh mục dùng chung để kết nối, chia sẻ; trách nhiệm của chủ quản, chủ sở hữu được phân định cụ thể; chất lượng dữ liệu được bảo đảm bằng cơ chế chuẩn hóa, cập nhật tự động thay cho đối soát thủ công; nhiều thành phần cùng khai thác; thước đo hiệu quả chuyển từ số lượng phần mềm sang giá trị thực tế mang lại cho người dân, doanh nghiệp. Đây là khung phân tích mang tính tham khảo, không phải định nghĩa pháp lý. Hai giai đoạn không tách bạch mà là một chuỗi liên tục: một lĩnh vực có thể đã tiến tới quản trị ở phương diện này nhưng vẫn ở mức quản lý ở phương diện khác.

Thực tiễn ngành Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị nhìn từ khung phân tích

Lĩnh vực đất đai có nền tảng vững chắc nhất. Quảng Trị là một trong những địa phương tiên phong hoàn thành đồng bộ 100% dữ liệu đất đai của 78/78 xã, phường, thị trấn (2.420.627 thửa đất) lên Hệ thống thông tin đất đai quốc gia. Dữ liệu được cập nhật hằng ngày, liên thông với cơ quan Thuế, đã tự động lập 40.018 phiếu chuyển thuế điện tử từ đầu năm 2026. Toàn ngành tiếp nhận 162.560 hồ sơ đất đai, trong đó 111.855 hồ sơ trực tuyến, tỷ lệ giải quyết đúng và sớm hạn đạt 98%. Tuy nhiên, mới có 1.297.695 thửa (53,6%) đạt chuẩn Nhóm 1 gồm dữ liệu sạch, đủ tọa độ, đã xác thực số định danh chủ sử dụng. Việc làm sạch gần một nửa số thửa còn lại chính là yêu cầu của giai đoạn quản trị. Đất đai vì thế ở mức quản lý, đã có yếu tố quản trị.

Ông Trần Đình Hiệp – Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường trình bày tham luận tại Hội thảo

Trong lĩnh vực rừng và phòng, chống thiên tai, yếu tố quản trị thể hiện rõ ở khâu cảnh báo. Hệ thống giám sát rừng thông minh với 18 camera AI, kết hợp giải đoán ảnh vệ tinh, tự động đẩy cảnh báo kèm tọa độ xuống ứng dụng di động của kiểm lâm địa bàn. Mạng lưới 67 trạm đo mưa, 09 trạm đo mực nước tự động hoạt động 24/7 cùng ứng dụng Vrain tích hợp trí tuệ nhân tạo giúp ngành chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động dự báo sớm nguy cơ ngập lụt lưu vực sông. Tuy vậy, hai nền tảng thủy lợi và phòng, chống thiên tai của hai tỉnh trước sáp nhập vẫn vận hành riêng, chưa có bộ chỉ số đo tốc độ phản ứng khi xuất hiện cảnh báo.

Ở lĩnh vực thủy sản, dữ liệu 4.632 tàu cá được đồng bộ 100% lên hệ thống Vnfishbase quốc gia; hệ thống giám sát hành trình và báo cáo vị trí tàu cá PRS 2.0 đưa công tác quản lý từ “đăng ký, kiểm tra định kỳ” sang giám sát theo thời gian thực, trở thành công cụ cảnh báo sớm các dấu hiệu khai thác IUU. Trong khi đó, dữ liệu nuôi trồng mới dừng ở mức cập nhật thông tin 502 cơ sở, chưa trở thành nguồn dữ liệu phục vụ điều hành. Lĩnh vực môi trường đã có mạng lưới trạm quan trắc không khí, nước mặt và giám sát nguồn thải của doanh nghiệp trọng điểm kết nối 24/7 về trung tâm điều hành, song cơ sở dữ liệu môi trường tổng thể đang tạm ngừng cập nhật do vướng mắc về đường truyền và lưu trữ, nên vẫn ở mức quản lý.

Đối với kinh tế nông nghiệp, dữ liệu đóng vai trò “hộ chiếu” giúp nông sản tiếp cận thị trường. Tỉnh duy trì 55 mã số vùng trồng và 02 mã số cơ sở đóng gói chuối xuất khẩu sang Trung Quốc; Cổng thông tin ocop.quangtri.gov.vn quản lý 295 sản phẩm OCOP còn hiệu lực chứng nhận, trong đó có 03 sản phẩm đạt 5 sao; 314 sản phẩm được hỗ trợ đưa lên sàn thương mại điện tử; công nghệ drone được ứng dụng trên hơn 42.000 ha. Nhiều chủ thể đã tham gia vào chuỗi dữ liệu, nhưng mới có 15/55 mã vùng trồng đạt chuẩn xuất khẩu và chỉ 14,9% hợp tác xã (105/705) ứng dụng công nghệ cao.

Đánh giá chung: Quản lý là chủ yếu, quản trị mới ở bước đầu

Đối chiếu với khung phân tích, chưa lĩnh vực nào của ngành đạt mức quản trị đầy đủ. Một số lĩnh vực đã hình thành yếu tố quản trị ở khâu cảnh báo, giám sát, liên thông, nhưng chưa đồng đều và chưa đáp ứng đồng thời các phương diện. Nhìn tổng thể, ngành đang ở giai đoạn quản lý dữ liệu là chủ yếu.

Khoảng cách này xuất phát từ năm vấn đề. Một là, dữ liệu sau sáp nhập chưa có chuẩn chung, chưa thành danh mục dùng chung có chủ quản rõ ràng. Hai là, hạ tầng tuyến cơ sở còn yếu, Dự án nâng cấp hạ tầng Trung tâm dữ liệu ngành đang hoàn thiện hồ sơ. Ba là, nông hộ, hợp tác xã còn hạn chế về năng lực và chi phí tiếp cận nền tảng số. Bốn là, nhân lực chuyên trách vừa thiếu vừa kiêm nhiệm, chưa đáp ứng các yêu cầu mới như kiểm kê khí nhà kính, đo đạc tín chỉ carbon. Năm là, hệ thống báo cáo mới đo ngành “làm được bao nhiêu việc”, chưa đo được dữ liệu giúp “ra quyết định nhanh hơn, tốt hơn bao nhiêu”; tỷ lệ thanh toán trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công quốc gia mới đạt 46%, chưa đạt chỉ tiêu 70%.

Thiết kế lại kiến trúc dữ liệu cho không gian quản lý mới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, ngành quản lý 191 km bờ biển, 841.000 ha rừng và gần 10.000 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Đây là thời điểm thuận lợi để thiết kế lại toàn bộ kiến trúc quản trị dữ liệu, thay vì chắp vá cơ học các hệ thống cũ. Ngành xác định ba quan điểm chỉ đạo: dữ liệu là tài sản chứ không phải tài liệu; thị trường là điểm xuất phát, doanh nghiệp là lực dẫn dắt; đo lường bằng kết quả thực chất.

Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026 – 2030, Sở Nông nghiệp và Môi trường tập trung vào năm nhóm giải pháp. Về thể chế, ban hành Quy chế quản trị, kết nối, chia sẻ dữ liệu số ngành; chuẩn hóa mã định danh dùng chung cho thửa đất, vùng trồng, tàu cá, cơ sở chăn nuôi; hợp nhất hai nền tảng thủy lợi, phòng, chống thiên tai trước mùa mưa bão năm 2027 và xử lý dứt điểm cơ sở dữ liệu môi trường bằng giải pháp thuê hạ tầng điện toán đám mây. Về hạ tầng, đẩy nhanh nâng cấp hạ tầng ngành, thí điểm thuê dịch vụ công nghệ số, tích hợp thanh toán trực tuyến tại bộ phận một cửa. Về điều hành, xây dựng bộ chỉ số “Từ dữ liệu đến quyết định”, quy định rõ thời hạn người có thẩm quyền phải xử lý khi hệ thống phát cảnh báo vượt ngưỡng. Về hệ sinh thái, đào tạo kỹ năng số cho nông dân, hợp tác xã, hình thành tổ dịch vụ số, thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) tại một số vùng sản xuất; đặt mục tiêu đến năm 2030 có trên 50% hợp tác xã nông nghiệp sử dụng nền tảng số, ít nhất 20% trong số đó ứng dụng AI hoặc phân tích dữ liệu. Về nhân lực, đào tạo chuyên sâu về quản trị dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho đội ngũ hiện có, thí điểm thuê chuyên gia, thu hút nhân lực chất lượng cao.

Việc ứng dụng dữ liệu sẽ ưu tiên bốn hướng: nông nghiệp xanh, tuần hoàn, thích ứng biến đổi khí hậu; chuỗi giá trị nông sản chủ lực; kinh tế rừng và tín chỉ carbon, trong đó Quảng Trị đã thu hơn 364 tỷ đồng từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính (ERPA); thủy sản và kinh tế biển.

Phát biểu kết thúc, đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường khẳng định: khoảng cách từ quản lý đến quản trị thực chất không thể lấp đầy bằng khẩu hiệu, mà cần một thể chế dữ liệu tường minh, hạ tầng dùng chung mạnh mẽ, hệ thống chỉ số đo lường cụ thể và đội ngũ nhân lực đủ tầm. Với phương châm “Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm và rõ sản phẩm đầu ra”, ngành Nông nghiệp và Môi trường Quảng Trị quyết tâm thu hẹp từng khoảng cách, đưa chuyển đổi số trở thành động lực nội sinh cho nền nông nghiệp xanh và bền vững.

Thanh Nga - PKHCNCĐS

Các tin khác

 

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 97

  • Hôm nay 2554

  • Tổng 11.027.711