Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
Để ngành chăn nuôi tiếp tục phát triển khi hội nhập TPP
Nước ta đã ký kết Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái bình dương (TPP). Khi Hiệp định này chính thức có hiệu lực sẽ mở ra cơ hội lớn cho phát triển sản xuất Nông nghiệp, hàng hóa nông sản nước ta được thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường rộng lớn của các nước tham gia TPP. Tuy nhiên, khó khăn, thách thức cũng không nhỏ khi chúng ta phải cạnh trạnh ngay trên “sân nhà” của mình. Trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ngành chăn nuôi được xác định sẽ gặp nhiều khó khăn nhất.
Khi hội nhập TPP, người chăn nuôi không chỉ phải cạnh tranh với các doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi khác trong tỉnh, trong nước mà còn phải cạnh tranh với người chăn nuôi ở các nước tham gia TPP. Thực tế hiện nay cho thấy, mặc dù có nhiều tiến bộ so với những năm trước đây nhưng so với đa số các nước tham gia TPP thì ngành chăn nuôi nước ta vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Cụ thể là chất lượng đàn giống vẫn còn thấp dẫn đến năng suất và chất lượng sản phẩm không cao; chăn nuôi trang trại, công nghiệp tuy đã phát triễn nhưng vẫn còn ít, chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ trong các nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ cao nên khó áp dụng các tiến bộ kỹ thuật; do đa số nguyên liệu phải nhập khẩu nên giá thành thức ăn và nhiều loại vật tư đầu vào cho chăn nuôi cao; việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình công nghệ mới vào sản xuất vẫn còn hạn chế… Những khó khăn, hạn chế nói trên đã dẫn đến giá thành phần lớn các loại sản phẩm chăn nuôi ở nước ta như thịt gà, thịt bò, trứng, sữa… đều cao hơn so với nhiều nước khác, do vậy sẽ rất khó cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập.
Trước thực trạng trên, để ngành chăn nuôi đứng vững và tiếp tục phát triển khi hội nhập TPP rất cần sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư đúng mức và thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Cải tạo nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi: Xuất phát từ thực tế hiện nay là chất lượng đàn giống vật nuôi của nước ta hiện nay còn thấp. Nước ta có hầu hết các giống vật nuôi phổ biến của thế giới như bò sữa Holstein Friesian, bò thịt Brahman; giống lợn Duroc, Pietrian, giống gà: Ross, Cobb, Isa Brown… nhưng lại thiếu các đàn đầu dòng, đàn hạt nhân có chất lượng tốt nên năng suất chăn nuôi không cao. Theo số liệu của Cục Chăn nuôi, năng suất chăn nuôi lợn nái nước ta mới đạt 17-20 con cai sữa/nái/năm, trong khi ở Đan Mạch là 31-33 con/nái/năm, ở một số nước tham gia TPP là 24-26 con/nái/năm. Năng suất sữa ở nước ta mới đạt 4-4,5 tấn/chu kỳ, trong khi ở Mỹ là trên 10 tấn/chu kỳ và Newzealand là 9 tấn/chu kỳ. Do đó, việc cải tạo chất lượng đàn giống vật nuôi là hết sức cấp thiết. Các cơ sở sản xuất giống cần tích cực tìm kiếm, nghiên cứu để nhập những con giống tốt về làm đàn đầu dòng, đàn hạt nhân, đồng thời tuyển chọn, nhân giống để cung ứng cho các cơ sở chăn nuôi những đàn giống có chất lượng tốt thay thế các đàn giống đang bị thoái hóa có năng suất và chất lượng thấp.
Giảm giá thành thức ăn chăn nuôi: Trong chăn nuôi chi phí thức ăn thường chiếm khoảng từ 70-80% giá thành sản phẩm. Do đa số các nguyên liệu cho sản xuất như ngô, đậu tương, vi lượng… đều phải nhập khẩu nên giá thành thức ăn chăn nuôi ở nước ta trong thời gian qua luôn cao hơn các nước tham gia TPP. Có một nghịch lý là nước ta đang xuất khẩu nhiều gạo với giá rẻ trong khi phải nhập khẩu ngô và đậu tương (là những nguyên liệu chính trong sản xuất thức ăn chăn nuôi) với giá cao. Để giảm giá thành thức ăn chăn nuôi trước hết các địa phương cần tích cực khuyến cáo người dân tích cực chuyển đổi các diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng ngô và các loại cây làm thức ăn cho gia súc để đảm bảo chủ động nguồn nguyên liệu trong nước. Đối với các nhà máy chế biến thức ăn cần tích cực cải tiến dây chuyền công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và nghiên cứu sử dụng lúa, gạo để thay thế một phần ngô và đậu tương nhằm giảm giá thành thức ăn, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi đủ sức canh tranh khi tham gia TPP.
Phát triển chăn nuôi tập trung, trang trại công nghiệp và tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật: Chăn nuôi ở nước ta hiện nay chủ yếu vẫn là phân tán nhỏ lẻ trong các nông hộ nên rất khó áp dụng TBKT dẫn đến năng suất và chất lượng không cao. Theo số liệu của Cục chăn nuôi trong số 4.131,6 ngàn hộ nuôi lợn ở nước ta thì số hộ nuôi với quy mô nhỏ (dưới 10 con/hộ) chiếm tới 86,4%, nhưng chỉ sản xuất được 34,2% tổng sản lượng thịt lợn. Với năng suất thấp như vậy sẽ rất khó cạnh tranh khi gia nhập TPP. Do vậy, xu hướng tất yếu là phải phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại và phương thức công nghiệp làm tiền đề cho việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Hiện nay khoa học công nghệ trong chăn nuôi phát triển mạnh, nhiều TBKT được áp dụng ngày càng phổ biến như: cấy truyền phôi, cho sinh sản đồng loạt, lựa chọn giới tính trong thụ tinh nhân tạo… Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật sẽ tạo nên bước phát triển đột phá, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi.
Tăng cường liên doanh, liên kết và phát triển chăn nuôi theo chuỗi giá trị: Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, nhu cầu của người tiêu dùng sử dụng thực phẩm có chất lượng tốt tại các siêu thị ngày càng cao. Đa số sản phẩm nhập khẩu từ các nước phát triển có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng nên rất dễ tiếp cận các siêu thị, trong khi chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ, không theo hệ thống, không truy xuất được nguồn gốc sẽ rất khó cạnh tranh. Do vậy, cần tăng cường liên kết trong sản xuất chăn nuôi theo chuỗi giá trị từ cung ứng con giống, thức ăn, vật tư đầu vào tổ chức sản xuất/giết mổ/chế biến/lưu thông, tiêu thụ. Trong đó các khâu đều được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo an toàn thực phẩm, sản phẩm có chất lượng tốt, đủ điều để tiếp cận hệ thống siêu thị đang ngày càng phát triển trong tương lai.
Phát triển các loại vật nuôi có tính đặc sản và phát huy lợi thế của từng địa phương: Thực tế cho thấy vào giữa năm 2015 khi thịt gà nhập khẩu từ Mỹ vào bán ở nước ta với giá chỉ khoảng 20.000đ/kg thì hầu hết các trang trại chăn nuôi gà công nghiệp (gà lông trắng) đều gặp nhiều khó khăn, trong khi các trang trại nuôi gà địa phương (gà ri, gà kiến, gà ta) vẫn thuận lợi hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Nguyên nhân do chất lượng gà địa phương cao và phù hợp với thị hiếu của nhiều người tiêu dùng nên có được lợi thế cạnh tranh riêng so với gà công nghiệp. Từ bài học kinh nghiêm trên cho thấy đối với những trang trại, nông hộ còn nhiều khó khăn, không đủ tiềm lực đầu tư phát triển sản xuất lớn, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm ngoại nhập thì phát triển các loại có tính đặc sản để có được lợi thế cạnh tranh riêng của mình là giải pháp phù hợp với những địa phương còn nhiều khó khăn như tỉnh ta.
Việc gia nhập TPP sẽ tạo ra khó khăn, thách thức không nhỏ cho ngành chăn nuôi, nhưng đồng thời cũng là động lực cho sự đổi mới và phát triển. Khi chúng ta phát huy tốt nội lực và các tiềm năng, lợi thế; khắc phục được những khó khăn, hạn chế thì ngành chăn nuôi sẽ tiếp tục phát triển, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân.
Theo: Trần Đình Hiệp
Nguồn trang TT Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Bình
- Chủ động phòng chống dịch trên đàn gia súc, gia cầm (23/12/2025)
- Sản lượng thịt gia súc, gia cầm xuất chuồng tăng 18% (23/12/2025)
- Đi lên từ đàn vịt thả đồng (23/12/2025)
- Mô hình chăn nuôi gà sạch khép kín theo hướng an toàn sinh học (23/12/2025)
- Một số kết quả sau 3 năm thực hiện tái cơ cấu ngành chăn nuôi (23/12/2025)
- Mô hình chăn nuôi phòng, chống dịch bệnh hiệu quả (23/12/2025)
- Xây dựng cơ sở an toàn dịch bệnh đối với các trang trại, gia trại chăn nuôi (23/12/2025)
- Công tác phòng, chống nắng nóng cho vật nuôi (23/12/2025)
- Bố Trạch: Đàn gia súc, gia cầm tăng trở lại (23/12/2025)
- Điểm tựa cho nông dân thoát nghèo (23/12/2025)


