Mỗi thời kỳ đều in dấu những nỗ lực thầm lặng nhưng kiên cường của hàng triệu con người – nhà nông, nhà khoa học, công nhân, chuyên viên kỹ thuật, cán bộ quản lý – những người đã làm nên kỳ tích “biến đói nghèo thành no ấm, biến thiên nhiên thành đối tác phát triển”. Từ hạt lúa đầu tiên gieo trên đồng Cứu Quốc, đến bản đồ địa chất phủ kín toàn quốc; từ những trạm đo mưa đầu tiên, đến mạng lưới trạm quan trắc tự động; từ việc “người cày có ruộng” đến “người Việt có dữ liệu tài nguyên của chính mình” – đó là minh chứng sống động cho tinh thần tự lực và đổi mới của ngành.
Chi tiết tin - Sở Nông nghiệp và Môi trường
80 năm nông nghiệp và môi trường Việt Nam – Hành trình kiến tạo tương lai xanh
Tám mươi năm qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đi cùng dân tộc qua mọi bước ngoặt của lịch sử – từ “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” đến những thách thức toàn cầu về biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Từ những chiếc cày gỗ năm xưa đến những vệ tinh quan trắc hiện đại, từ “hũ gạo cứu đói” năm 1945 đến “hệ thống dữ liệu khí tượng – thủy văn quốc gia” ngày nay – đó là hành trình bền bỉ của trí tuệ, ý chí và niềm tin Việt Nam.

80 năm nông nghiệp và môi trường Việt Nam – Hành trình kiến tạo tương lai xanh. Ảnh: Khương Trung.
Hôm nay, khi hai lĩnh vực nông nghiệp và môi trường được hợp nhất trong một thể chế thống nhất, tôi càng cảm nhận sâu sắc rằng: đây không chỉ là sự sáp nhập về tổ chức, mà là sự hội tụ của trí tuệ, kinh nghiệm và khát vọng quốc gia. Từ nay, đất – nước – rừng – biển – khoáng sản – khí hậu – dữ liệu sẽ được điều phối như một hệ sinh thái thống nhất, để Việt Nam bước vào kỷ nguyên quản trị thông minh, phát triển bền vững và kiến tạo tương lai xanh.
Đây không chỉ là bản tổng kết tám mươi năm của một ngành, mà là hành trình của niềm tin và khát vọng Việt Nam – từ những hạt thóc vàng đến dòng dữ liệu số, từ giọt nước đầu nguồn đến đại dương hội nhập, từ mỏ khoáng sản sâu trong lòng đất đến vệ tinh quan sát Trái đất đang bay giữa không gian. Với nền tảng hôm nay, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục tiên phong trên con đường “xanh hóa quốc gia”, để mỗi công dân đều được sống trong một Việt Nam xanh, thông minh, hạnh phúc và tự cường.
Giai đoạn 1945–1954: Diệt “giặc đói”, dựng nền độc lập
Bối cảnh và thách thức. Trước 1945, xã hội Việt Nam dưới ách thực dân – phong kiến với quan hệ phát canh thu tô lạc hậu, bất bình đẳng nghiêm trọng; nông dân phần lớn không có hoặc rất ít đất canh tác, năng suất lúa thấp, thiên tai – hạn hán – lũ lụt liên tiếp, dẫn đến thảm họa đói năm 1945 cướp đi sinh mạng của hàng triệu người.
Chủ trương lớn và thiết chế đầu ngành. Sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời xác định “chống giặc đói” là nhiệm vụ hàng đầu; phát động phong trào “hũ gạo cứu đói”, “tăng gia sản xuất”, “nhường cơm sẻ áo”. Đồng thời, Nhà nước nhanh chóng thiết lập các cơ quan nền tảng: Bộ Canh nông; Nha Điền địa phụ trách thống kê, đo đạc, quản lý và phân phối ruộng đất; Nha Khí tượng; Nha Kỹ nghệ và Mỏ… – tiền thân của các cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp, đất đai, khí tượng thủy văn và khoáng sản sau này.
Kết quả nổi bật. Sản xuất lương thực nhanh chóng phục hồi; nạn đói bị đẩy lùi. Thuế nông nghiệp trở thành nguồn thu ngân sách chủ lực đầu thập niên 1950; từ 1953, tài chính quốc gia lần đầu cân đối dương kể từ Cách mạng Tháng Tám. Luật Cải cách ruộng đất 1953 thực thi khẩu hiệu “người cày có ruộng”, giải phóng sức sản xuất nông thôn, tạo hậu phương vững chắc cho kháng chiến.
Giai đoạn 1955–1975: Miền Bắc xây dựng CNXH – Miền Nam kháng chiến
Kiện toàn bộ máy và phân ngành chuyên môn. Giai đoạn này chứng kiến quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ: Bộ Nông lâm, Bộ Thủy lợi, Bộ Kiến trúc; các cơ quan chuyên ngành Bộ Nông nghiệp, Bộ Nông trường, Tổng cục Thủy sản, Tổng cục Lâm nghiệp; Ủy ban Nông nghiệp Trung ương; Tổng cục Khí tượng Thủy văn… – hình thành nền móng quản trị liên ngành sản xuất – tài nguyên – thủy lợi – năng lượng – khí tượng.
Chính sách đất đai và hợp tác xã hóa. HTX nông nghiệp phát triển nhanh theo phương thức “khoán sản lượng – khoán lao động – khoán chi phí”; song cơ chế tập thể cứng nhắc làm giảm động lực. Mô hình “khoán hộ” (thí điểm Vĩnh Phúc 1966) hé mở hướng đổi mới sau này. Cùng lúc, các nông trường quốc doanh được xác định là hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ, gắn với cơ chế hạch toán.
Thủy lợi – hạ tầng trụ cột. Hàng loạt công trình đại thủy nông (Bắc Hưng Hải, Nam Sông Mã…), các hồ chứa đa mục tiêu, hệ thống kênh mương đồng bằng sông Hồng… đã tăng khả năng chống lũ, chống hạn, mở rộng diện tích tưới, đặt nền cho quản trị tài nguyên nước và thích ứng khí hậu.
Kết quả. Đến đầu thập niên 1970, năng suất lúa tăng, miền Bắc cơ bản tự đảm bảo lương thực, chi viện hiệu quả cho tiền tuyến.
Giai đoạn 1976–1985: Ngọn cờ đầu mở lối cải cách
Bối cảnh. Sau thống nhất, cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp bình quân kéo dài khiến sản xuất trì trệ; cấm vận và chiến sự biên giới càng làm khó khăn.
Đột phá từ thực tiễn “khoán”. Những sáng kiến ở Hải Phòng, TP.HCM, Long An, Nông trường Sông Hậu… khơi dậy động lực người lao động, là tiền đề cho Chỉ thị 100-CT/TW (1981) – khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động – bước ngoặt đầu tiên cho tư duy đổi mới trong nông nghiệp.
Mở rộng không gian quản trị tài nguyên. Thành lập, kiện toàn các cơ quan quản lý đất đai, thủy lợi, thú y, BVTV; phục hồi điều tra địa chất – đo đạc bản đồ – khí tượng thủy văn; đẩy mạnh chương trình khai hoang, kinh tế mới; phát triển hệ thống nông – lâm trường quốc doanh (khoảng 870 đơn vị, quản lý ~7,5 triệu ha).
Hạ tầng thủy lợi – thủy điện. Ưu tiên đầu tư cho đê biển, đê ngăn mặn, hồ chứa lớn, khởi công Thủy điện Hòa Bình (1979) – công trình thế kỷ vừa phát điện, vừa chống lũ và cấp nước đồng bằng Bắc Bộ.
Kết quả. Dù khó khăn, GDP và nông nghiệp vẫn tăng; quan trọng hơn, cơ chế khoán khơi thông động lực, đặt nền cho Nghị quyết 10 (1988) và Đổi mới toàn diện.
Giai đoạn 1986–2000: Bứt phá từ cánh đồng – bảo đảm an ninh lương thực, mở cửa xuất khẩu
Chuyển đổi thể chế. Nghị quyết 10 (1988) giao khoán ổn định cho hộ nông dân, thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị sản xuất cơ bản; loạt chính sách đất đai, tín dụng, khuyến nông, đầu tư nước ngoài… được ban hành (Luật Đất đai 1993; Nghị định 64/CP giao đất nông nghiệp; 01/CP khoán trong nông – lâm trường; 02/CP giao đất lâm nghiệp…).
Tác động. Từ 1989, Việt Nam tự túc lương thực và bắt đầu xuất khẩu gạo; thập niên 1990, nhiều nông sản chủ lực (gạo, cà phê, cao su, thủy sản) tăng mạnh, đưa Việt Nam thành một trong những quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu.
Hoàn thiện pháp luật tài nguyên – môi trường. Luật BVMT 1993, Luật Khoáng sản 1996, Luật Tài nguyên nước 1998; Chỉ thị 36-CT/TW (1998) xác lập BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội – nền tảng cho quản trị liên ngành đất – nước – rừng – khoáng sản trong thế kỷ XXI.
Giai đoạn 2001–2010: Hội nhập sâu rộng – pháp điển hóa quản trị tài nguyên – môi trường; CNH, HĐH nông nghiệp
Hội nhập và thể chế thị trường. Việt Nam gia nhập WTO (2007); đẩy mạnh FTA trong khu vực; ban hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư (2005); Luật Đất đai 2003 mở rộng quyền sử dụng đất; Quyết định 80/2002 thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị.
Thiết lập cơ quan thống nhất về tài nguyên – môi trường. Bộ TN&MT (2002) thống nhất quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn, khoáng sản, đo đạc – bản đồ; Chiến lược biển Việt Nam (2007); Tổng cục Biển và Hải đảo (2008); Luật BVMT 2005; Luật Đa dạng sinh học 2008; đặt nền cho quản trị tổng hợp đất – nước – biển – khí hậu.
Ứng phó biến đổi khí hậu. Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó BĐKH (2008); Kịch bản BĐKH và nước biển dâng (2009) – cơ sở hoạch định chính sách thích ứng ở ĐBSCL và vùng ven biển.
Xây dựng nông thôn mới. Bộ tiêu chí NTM (2009) và Chương trình NTM (2010) tạo thay đổi toàn diện về hạ tầng – sản xuất – môi trường – văn hóa nông thôn; thúc đẩy dồn điền đổi thửa, nâng cấp giao thông, thủy lợi, điện, nước.
Giai đoạn 2011–2020: Tái cơ cấu nông nghiệp, tăng trưởng xanh; dữ liệu số – viễn thám – quản trị rủi ro khí hậu
Tái cơ cấu theo chuỗi giá trị. Quyết định 899/QĐ-TTg (2013) xác lập 3 trục: sản phẩm lợi thế, chuỗi giá trị chế biến – thị trường, đổi mới thể chế; nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ (Nghị định 109/2018) được thúc đẩy; Luật chuyên ngành nông nghiệp (2015–2018) đồng bộ hóa khung pháp lý.
Quản trị đất, nước, khoáng sản theo dữ liệu. Nghị quyết 19-NQ/TW (2012), Luật Đất đai 2013; Luật Tài nguyên nước 2012 (quản lý tổng hợp theo lưu vực); Luật Khoáng sản 2010 (đấu giá quyền khai thác). Không gian biển được quản trị tổng hợp (Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015; Nghị quyết 36-NQ/TW 2018).
Khí hậu và môi trường là trục chính sách. Nghị quyết 24-NQ/TW (2013) về ứng phó BĐKH, quản lý tài nguyên và BVMT; Luật BVMT 2014; tham gia Thỏa thuận Paris (2015); NDC cập nhật 2020; hiện đại hóa hệ thống quan trắc KTTV, GIS – viễn thám trong quy hoạch rừng – đất – nước – bờ biển; chuyển từ ứng phó sang phòng ngừa dựa trên kịch bản và mô phỏng dự báo.
Chương trình NTM giai đoạn 2016–2020. Hạ tầng thiết yếu cải thiện, OCOP hình thành mạng lưới sản phẩm đặc trưng gắn du lịch cộng đồng; thu nhập nông thôn tăng, nghèo đa chiều giảm.
Giai đoạn 2021–nay: Chuyển đổi xanh – tuần hoàn – số hóa; nông nghiệp thông minh khí hậu
Định hướng chiến lược. Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững 2021–2030, tầm nhìn 2050 (QĐ 150); Nghị quyết 19-NQ/TW (2022) về “tam nông”; cam kết Net Zero 2050 tại COP26; Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm phát thải khí nhà kính và thị trường carbon; Chiến lược tăng trưởng xanh (QĐ 1658/2021).
Quản trị tài nguyên theo cách tiếp cận “quản lý vốn”. Luật Đất đai 2024 tăng minh bạch, số hóa đất đai; Luật Tài nguyên nước 2023 coi nước là tài sản công có giá trị kinh tế, quản lý theo lưu vực, định giá – phí – thuế, phục hồi nguồn suy thoái; địa chất – khoáng sản chuyển sang khai thác hiệu quả, chế biến sâu, phục hồi môi trường; không gian biển triển khai quy hoạch tích hợp, quản lý tổng hợp đới bờ.
Hạ tầng dữ liệu – viễn thám – KTTV. Nâng cấp hệ thống quan trắc môi trường – khí tượng; bản đồ số đất – nước – rừng – biển; giám sát mặn – hạn, xói lở bờ biển, cháy rừng từ vệ tinh; cảnh báo sớm đa rủi ro liên thông.

Chuyển đổi xanh – tuần hoàn – số hóa; nông nghiệp thông minh khí hậu. Ảnh: FPT Digital.
Kết quả bước đầu. Tăng trưởng nông nghiệp duy trì tích cực; xuất khẩu nông – lâm – thủy sản đạt mốc cao mới; NTM nâng chuẩn; thu nhập nông thôn tăng; quản lý chất thải dịch chuyển sang tái chế – tái sử dụng; mạng lưới khu bảo tồn – di sản thiên nhiên mở rộng; năng lượng tái tạo bứt phá.
Động lực của chặng tới. Hoàn thiện thể chế thị trường đất – nước – khoáng sản đi đôi với thực thi nghiêm; tăng tốc chuyển đổi xanh và tuần hoàn toàn chuỗi; số hóa – mở dữ liệu như hạ tầng công; phát triển thị trường carbon, dịch vụ hệ sinh thái và tài chính xanh; kết nối nông dân – HTX – DN bằng hợp đồng và nền tảng số; nâng cấp quan trắc – dự báo – cảnh báo sớm đa rủi ro.
Tám mươi năm qua, từ “hũ gạo cứu đói” đến “dữ liệu mở – không gian số”, ngành Nông nghiệp và Môi trường luôn đứng ở tuyến đầu kiến tạo tương lai của đất nước. Mỗi chặng đường đều để lại một dấu ấn: giải phóng sức sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực, mở cửa xuất khẩu, tái cơ cấu theo chuỗi giá trị, pháp điển hoá quản trị tài nguyên – môi trường và bước chuyển quyết liệt sang tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp thông minh khí hậu.
Bước vào kỷ nguyên mới, khi cạnh tranh tài nguyên ngày càng gay gắt và rủi ro khí hậu khó lường, ngành càng phải hành động như một hệ sinh thái thống nhất “đất – nước – rừng – biển – khoáng sản – khí hậu – dữ liệu”. Trọng tâm là: hoàn thiện thể chế thị trường đi đôi với thực thi nghiêm; số hoá – mở dữ liệu làm hạ tầng công; thúc đẩy liên kết nông dân – HTX – doanh nghiệp bằng hợp đồng và nền tảng số; phát triển thị trường carbon, dịch vụ hệ sinh thái và tài chính xanh; nâng cấp quan trắc – dự báo – cảnh báo sớm đa rủi ro; và lan toả các mô hình nông nghiệp tuần hoàn, các-bon thấp.
Với nền tảng tích lũy về tri thức, thể chế và hạ tầng dữ liệu ngày nay, ngành Nông nghiệp và Môi trường đủ bản lĩnh dẫn dắt chuyển đổi xanh của Việt Nam: lấy nông dân làm chủ thể, nông thôn là không gian phát triển, tài nguyên thiên nhiên là vốn quý, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực; để “nông nghiệp sinh thái – nông thôn hiện đại – nông dân văn minh” trở thành hiện thực, và mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 trở thành cam kết hành động.
Nguồn: https://mae.gov.vn/site-SuKien80Nam/80-nam-nong-nghiep-va-moi-truong-viet-nam--hanh-trinh-kien-tao-tuong-lai-xanh-50.htm
- Hội nghị nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I (11/11/2025)
- Công tác Nước sạch vệ sinh môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Trị (10/11/2025)
- Nông nghiệp xanh Quảng Trị, gần 1 thập kỷ chuyển mình (09/11/2025)
- Thư chúc mừng của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhân kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam (1945 - 2025) (09/11/2025)
- Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hoàng Nam kiểm tra tình hình triển khai các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp (09/11/2025)
- Lễ trao tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng (07/11/2025)
- Cảng cá Nhật Lệ tăng cường kiểm soát IUU, góp phần tháo gỡ “thẻ vàng” thủy sản (07/11/2025)
- Phạt đến 500 triệu đồng với vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước (07/11/2025)
- Ứng dụng đèn LED trong khai thác xa bờ: “Đòn bẩy” phát triển nghề cá thân thiện, giảm phát thải (07/11/2025)
- Tuần tra, kiểm tra rừng tự nhiên khu vực giáp ranh giữa xã Hải Lăng và xã Ba Lòng, tỉnh Quảng Trị thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ lưu vực sông Thạch Hãn (06/11/2025)


